|
Sinh thời, nhà thơ Vũ Đình Liên cho chúng tôi biết, cầu Trò được dựng từ năm 1697 nằm ở thôn Gia Hòa, xã Phúc Hòa, huyện Phúc Thọ, tỉnh Sơn Tây (nay thuộc Hà Nội). Trong dân gian có hai truyền thuyết về chiếc cầu cổ này. Thứ nhất là chuyện nữ thần công chúa Ý Đức con vua Hùng Chiêu Vương phù hộ vua Trần Thánh Tông đánh đuổi giặc Nguyên Mông xâm lược. Thứ hai là chuyện người kỹ nữ tài hoa bạc mệnh, mà thi sĩ Vũ Đình Liên đã bị ám ảnh, mê hồn trong tiếng cầm ca vọng về tâm thức, tạo cho ông nguồn thi hứng viết nên những câu thơ đầy cảm thông.
 |
|
Nhà thơ Vũ Đình Liên
| Theo lời kể của nhà thơ Vũ Đình Liên: “Cuối năm 1972, tôi cùng gia đình sơ tán lên huyện Phúc Thọ, tỉnh Sơn Tây. Một hôm từ thị xã về, tôi cùng người bạn địa phương đi qua cái cầu xi măng, cầu khá dài. Hỏi người bạn, tôi được biết cầu tên là cầu Trò và lai lịch của cái tên. Nguyên ngày xưa có cô nhà trò đi hát đêm, sáng sớm về qua lạch nước con thì gặp mưa gió, bị cảm lạnh và chết. Dân làng đem chôn trên bờ ngòi và lập miếu thờ. Người bạn kể chuyện một cách bàng quan nhưng đã để lại cho người nghe niềm xót thương day dứt, như có một cái gai nhọn cắm sâu vào da thịt không sao nhổ được. Tôi nghĩ đến số phận đáng thương của những người phụ nữ nghèo khổ, có chút nhan sắc, có chút tài hoa đã phải mang tài sắc ấy mua vui cho những kẻ quyền quí giàu sang, cuối cùng phải chết một cách đau thương như Đạm Tiên trong Truyện Kiều hay Phăng-tin của Những người khốn khổ”.
Sau nửa năm ám ảnh, trăn trở với câu chuyện thương tâm về người kỹ nữ yểu mệnh, nhà thơ Vũ Đình Liên đã viết nên bài thơ Cầu Trò, mà ông xem là một trong vài bài thơ mình thích nhất:
“Đường về Hà Nội, cầu Trò qua
Nghe chuyện người xưa, dạ xót xa
Đêm tiệc ai say làm phách đổ
Mai sương người thấm lớp mưa sa
Hai manh xiêm áo, khôn ngăn giá
Nửa kiếp phong trần luống rụng hoa
Ví phỏng Nguyễn Du còn bút lệ
Đoạn trường thêm mấy khúc bi ca”
Cuối năm 1974, sau một cuộc nói chuyện với các bạn văn trẻ, nhà thơ Vũ Đình Liên về phòng nằm trằn trọc nhớ về một người bạn đã mất và liên tưởng đến câu chuyện ca nữ cầu Trò. Ông nghĩ ở thế giới bên kia có thể bạn mình sẽ gặp người kỹ nữ tài hoa và cao hứng viết bài thơ gửi bạn rất... liêu trai. Ông thổ lộ: “Tôi vừa đặt bút thì bỗng nhiên thấy trong lòng có một rạo rực lạ lùng như có một sự cố gì bất thường sắp xảy ra. Một cơn gió lạnh nổi lên từ phía bắc, thổi lùa vào cánh cửa phòng, đưa theo tiếng người vừa xa, vừa gần, ngâm hai bài thơ như từ phương trời âm u nào vọng tới. Tôi vội vàng ghi lại hai bài thơ và ngạc nhiên, hoảng hốt thấy bài thơ thứ nhất họa đúng vần bài Cầu Trò của tôi”. Bài thơ như sau:
“Một mái liêu xiêu năm tháng qua
Bên cầu nắng dãi với mưa sa
Trăm năm chồng chất oan hồn nặng
Nửa kiếp lạnh lùng ân ái xa
Thuở mới trời nghiêng hồn xót nước
Chuyện xưa cành gãy khách thương hoa
Cõi âm bừng dậy hơi dương ấm
Lòng bắt đầu tan hận xướng ca”
Và khi ông chép đến hai câu cuối bài thơ thứ hai “Tạ lòng người biết nên chi được- Phách ngọc gieo thêm một nhịp vàng” thì chợt như thấy dưới ánh đèn khuya mờ ảo hình ảnh của một kỹ nữ yểu điệu ngồi trên chiếu hoa, nâng nhẹ hai chiếc dùi mở đầu một nhịp phách nửa buồn nửa vui ngỡ tiếng lệ rơi trên tà áo lụa, tiếng ngọc rơi trên mâm vàng... Một không gian thơ liêu trai đến não lòng!
 |
|
Bìa bản thảo Người kỹ nữ cầu Trò
|
Quê gốc ở Hải Dương, nhưng Vũ Đình Liên sinh ra ở Hà Nội ngày 12.11.1913 trong một gia đình làm thợ kim hoàn ở phố Hàng Bạc. Vũ Đình Liên là một trong những học sinh giỏi có tiếng của đất Hà thành, đỗ tú tài trường Bưởi năm 1932. Vừa học đại học luật, ông vừa đi dạy học kiếm sống tại các trường tư thục Thăng Long, Gia Long, Hoài Đức... Ông cũng bắt đầu xuất hiện như một nhà thơ, nhà báo chuyên nghiệp khi viết cho báo Phong hóa của Đoàn Phú Tứ cùng một số báo khác; rồi tự đứng ra mở báo Tinh hoa, mời nhiều cây bút tên tuổi đương thời cộng tác. Ông yêu thơ và làm thơ rất sớm, như lời thơ ông viết:
“Từ thuở mười ba thuộc Truyện Kiều
Câu thơ tài mệnh bóng hình yêu
Tú Xương ngày trước là tri kỷ
Công Trứ cây thông cũng muốn trèo...”
Xuyên suốt hành trình thơ của mình, Vũ Đình Liên hướng ngòi bút về thân phận con người, nhất là những người nghèo khổ, vun đắp tình thương yêu giữa người với người. Ngay bài thơ đầu tiên Hồn xưa viết từ năm 1927, ông đã thể hiện tâm cảm ấy:
“Lặng lẽ trên đường lá rụng mưa bay
Như khêu gợi nỗi niềm thương tiếc
Những cảnh và những người đã chết
Tự bao giờ mà nay biết tìm đâu”
Nhà thơ Vũ Đình Liên thổ lộ: “Năm 1984, tôi có gặp anh Phạm Văn Đồng vốn bạn học cũ cùng trường Bưởi, trước tôi ba năm. Chúng tôi gặp lại nhau ở trụ sở Hội Nhà văn Việt Nam, tay bắt mặt mừng. Anh Đồng luôn là con người dễ mến, dễ gần gũi. Các phóng viên chụp ảnh tôi với anh Đồng, sau đó gửi tặng tôi. Thấy ảnh đẹp, tôi gửi ảnh tặng lại anh Đồng, kèm theo bốn bài thơ. Trong thơ tôi viết đại ý rằng, không có chủ nghĩa nào, không có tôn giáo nào đem lại được hạnh phúc hoàn toàn cho con người. Cuộc đời là thế. Phải đấu tranh để sống. Chỉ có con người thương yêu nhau, thương nhau phần nào thì cái khổ đỡ đi phần nấy”.
Hoài niệm, hướng về thân phận con người, số phận dân tộc cũng đã khơi nguồn cảm hứng cho Vũ Đình Liên dệt tuyệt tác Ông đồ đã được dịch ra hơn 10 thứ tiếng nước ngoài, như Anh, Pháp, Trung Quốc, Đức, Nga, Thụy Điển, Ả Rập, Đan Mạch,... Có một tờ báo châu Phi, số đặc biệt, cùng lúc in bài Ông đồ thành ba thứ tiếng: Anh, Pháp, Ả Rập. Riêng tiếng Pháp, bài thơ Ông đồ có ba người dịch. Và người dịch đầu tiên là một phóng viên thường trú báo Nhân đạo của Pháp tại Hà Nội.
Ngoài sự nghiệp thi ca, Vũ Đình Liên còn là nhà nghiên cứu văn học với 2 công trình đáng chú ý là Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam và Nguyễn Đình Chiểu. Ông cũng dịch nhiều thơ nước ngoài, nhất là thơ Pháp, trong đó có tác phẩm Thơ Baudelaire đã được Hội Nhà văn Việt Nam trao tặng thưởng năm 1996 sau khi ông đã qua đời! Đồng thời ông còn là nhà giáo đáng kính, có nhiều đóng góp cho sự nghiệp giáo dục từ những ngày đầu lập quốc, được phong danh hiệu Nhà giáo nhân dân.
Các thế hệ học trò cũng như bạn đọc hy vọng sẽ được đón nhận những tác phẩm chọn lọc có giá trị từ trong di cảo của nhà thơ- nhà giáo đáng kính Vũ Đình Liên được chính thức ra mắt, trong đó có tập thơ văn Người kỹ nữ cầu Trò để chiêm ngưỡng… “Phách ngọc gieo thêm một nhịp vàng”
Phan Hoàng
|