|
Là hậu duệ của văn minh trầu cau, Việt Nam đã lưu giữ được nhiều dấu tích văn hóa trầu cau, và trong quyển văn hóa ấy, cấu trúc nên bản sắc văn hóa của mình. Hai bộ ba trùng khít lên nhau : cau – trầu – vôi (của văn hóa mẫu hệ) và cây Gơnơng – dây cự li Bra – trâu (của văn hóa hiến sinh phụ hệ) trở thành cấu trúc cơ bản của văn hóa Việt Nam. Trong tính chỉnh thể của nó, trầu cau là biểu hiện của nguyên lý nguyên - phân, từ một sinh ra tất cả. Nó là biểu tượng hạt nhân của nền văn hóa chủ toàn (chữ dùng của Cao Xuân Huy), văn hóa của kiểu cấu trúc xã hội như cái toàn bộ duy nhất (chữ dùng của Macel Mauss, “un tout unique”). Trong tính kết hợp của bộ ba, trầu cau là biểu hiện của hôn nhân, biểu thị sự kết hợp âm - dương, sinh – thực trong một chỉnh thể trọn vẹn. Nó biểu trưng cho văn hóa lưỡng phân lưỡng hợp, phồn thực phồn sinh, cái một trong cái nhiều và ngược lại. Trong tính hoàn nguyên và phát triển của biểu tượng phái sinh (là lễ đâm trâu), trầu cau là biểu hiện của đạo lý hướng về nguồn cội, đức hi sinh, lòng hỷ xả (trong cách trâu (min, con Cau) chết bên cây mẹ, hòa máu mình để phục hồi đất mẹ năng sinh). Những hình tròn quanh cây hiến sinh được vẽ bởi con trâu và sợi dây cự li cứ khép dần lại cho đến tận khi con trâu phủ phục dưới gốc mẹ, đón cái chết và hòa máu vào cây mẹ nguyên sinh, còn biểu hiện cái vận động (trâu) bên cái tĩnh (cây), vạch ra những hình zézo kỷ hà, tượng trưng cho cái trống rỗng của bụng mẹ (đất) lại nẩy sinh mầm cây ở giữa (cây mẹ), để sau này vẫn còn hình thể trong cái bình vôi, cối giã trầu… Biểu hiện này trở lại xoắn luyến với hai đặc tính trước để đi đến tính thống nhất : bộ ba trong cái một, ba là “số nhiều cơ bản của cái một tuyệt đối” được làm nên từ cái đôi (như hôn nhân) của sự “thống nhất hai mặt đối lập”, nghĩa là vẫn từ cái một sinh ra tất cả. Đại thể, đó là cái ẩn ý của trầu cau được Nguyễn Ngọc Chương chỉ ra qua việc phân tích cái hình thể đốt – sừng.
 |
| Từ nguyên lý đốt – sừng, soi vào huyền thoại Việt Nam, Nguyễn Ngọc Chương cho rằng: nguồn gốc của người Việt (trong huyền thoại Trâu Sơn Giếng Việt) là rắn Vương Kinh Tử (rắn có đốt giống như cau), sinh ra bởi mẹ đất Trâu Sơn từ trong lòng bang giếng. Đó là thời kỳ mẫu hệ, với tín ngưỡng thờ mẫu trong Điện Mẫu. Khi cây mẫu hệ bị phủ định (Việt Vương chặt cây Chu trong Đẻ đất đẻ nước, Lạc Long chặt cây Xương Cuồng trong Lĩnh Nam trích quái, Đam Săn chặt cây Kơpô trong Đam Săn, …), mẫu quyền nhường bước trước nam quyền, Điện Mẫu nhường ngôi vị độc tôn cho Việt Điện, rắn Vương Kinh Tử của lòng mẹ chuyển sang rồng Kinh Dương Vương của uy quyền cha. Tuy vậy, cái độc đáo của văn hóa Việt Nam là quá trình phủ định ấy đã không thật triệt để, thờ mẫu vẫn trường tồn trong tâm linh người Việt. Bên cạnh đền Hùng, tổ mẫu vẫn có vị thế của Tam tòa thánh Mẫu. Rồi khi các ý thức hệ tư tưởng nước ngoài như Phật, Nho được chế độ phong kiến đón nhận và đưa lên thành ý thức hệ chính thống, đạo mẫu vẫn tìm được một vị thế “dung hòa”, không phải ở vị thế chính giữa, nhưng chái chùa nào mà chẳng kèm theo phủ mẫu, rồi Tổ mẫu lại hóa thân thành Phật mẫu để ngự trên Phật điện (Phật mẫu Man Nương) ? Tuy ít thấy hơn, nhưng không hẳn là đã không có, cạnh các Đền điện cũng có Mẫu điện (như ở đền Cửa Ông – Quảng Ninh chẳng hạn). Còn lễ hội phủ mẫu, các tục lên đồng hầu bóng thì đến nay hãy còn đa dạng. Tất cả cho thấy đạo mẫu vẫn gắn bó mật thiết với người dân Việt Nam. Nó là tín ngưỡng đã ăn sâu vào tâm tính của người Việt, biểu thị cái “nguyên lý ỷ la”, dựa vào thiên nhiên, lấy nhu chế cương, lạt mềm buộc chặt, cốt sao cho có được sự hài hòa, êm thấm. Chính vì vậy mà qua biểu tượng trầu cau để đi tìm tính thống nhất (thực chất là tính trội) trong văn hóa Việt Nam, Nguyễn Ngọc Chương mới đi đến nhận định : “Văn minh Việt Nam trong vùng Nam Á trầu cau, cái không tính của bụng mẹ mẫu hệ, để sinh ra còn mang nhiều tàn dư, ý nghĩa của quan niệm khởi thủy. Tính thiện mẫu tử hằn vết trên nền suy tư Việt Nam là một thế mạnh về triết lý nhân sinh, về vũ trụ, để bồi đắp cái dương tính nam thời để cái mạnh dương tính đượm màu của cái nhân của tình thương, được ước lệ hóa như tình mẫu tử lúc ban đầu. Đó là tính cách Việt Nam, đồng thời là thế mạnh thế thiện để đi lên”.
Gặp ông trong cái ngõ nhỏ yên bình giữa lòng Hà Nội chợt thấy ông mang một nỗi niềm hoài cổ. Phải người yêu trầu đã sợ mất đạo cau ? Bởi trong câu chuyện với Đỗ Lai Thúy và tôi, ông bày tỏ sự lo lắng cho sự phai tàn của văn hóa xứ Đoài, của văn minh phủ Quốc. Hôm ấy sức khỏe ông đã yếu đi nhiều, ông vừa mới xuất viện được vài ngày. Trong lúc nói chuyện, nhiều khi ông bỗng dưng dừng lại, như để trấn át một cơn đau lại như thể lắng lại mà ưu tư về điều gì đó, để rồi khi trở lại câu chuyện, ánh mắt già nua lại lóe lên bởi những ý tưởng về học thuật. Ông bảo trong Trầu Cau Nhất nguyên thư, ông vẫn nhất thống ở nguyên tắc nghiên cứu biểu tượng, nhưng sẽ dồn nhiều nỗ lực vào tục hiến sinh, nơi ghi dấu đức hi sinh hỷ xả của con người. Nghĩa là một lần nữa, ông lại trở về tìm hiểu cái buổi trước của bình minh hữu sử, thông qua hệ thống biểu tượng của nó mà nghiên cứu về tục lệ hiến sinh, vấn đề vẫn đang là thách thức đối với giới nhân loại học trên toàn thế giới sau J.G.Frazer.
Đối với vấn đề hiến sinh, những nhà nghiên cứu phương Tây, xuất phát điểm từ nền văn minh mà loài người đang hướng tới, đã không thể hiểu nổi vì sao lại có thể có nghi thức dã man như hiến sinh người, là vấn đề chủ chốt mà Frazer theo đuổi trong tác phẩm Cành vàng của ông. Gần như đối thoại với Frazer, tuy cũng cùng xuất phát từ truyền thống A. Comte, nhưng L.L.Bruhl trong công trình nhân học để đời của mình : Kinh nghiệm thần bí và các biểu tượng ở người nguyên thủy phần nào mới tìm hiểu xã hội nguyên thủy trong thế đối lập tư duy (là cách đặt vấn đề của Frazer) với cảm xúc. Nhiều lễ hiến sinh được ông lấy làm dẫn chứng về kinh nghiệm thần bí của người nguyên thủy, tuy nhiên ông không giải quyết vấn đề đạo đức của lễ hiến sinh mà chỉ coi đó như là kinh nghiệm của sự tham dự (participation). Hiến sinh vẫn là câu hỏi còn bỏ lửng, nó là sản phẩm của một “logíc khác” mà người phương Tây chỉ cảm nhận được chứ chưa chấp nhận được. Nhưng xuất phát ở một nền văn minh khác, chắc chắn không phải là man dã như người phương Tây đã từng quan niệm, Nguyễn Ngọc Chương lại khẳng định yếu tố nhân văn trong tục hiến sinh. Hiến sinh không phải là tục lệ dã man, hiến sinh là biểu hiện đầy đủ và sinh động nhất của đạo đức nguyên thủy, làm nền tảng cho đạo lý uống nước nhớ nguồn của văn hóa Việt Nam. Vậy là lại có một ý tưởng mới, được đoan chắc như trầu cau. Bắc Ninh ngày nay, ông còn nhấn mạnh như vậy, là vùng đất trung tâm đến nay vẫn còn những nét tàn dư này. Song chẳng biết có bao nhiêu vấn đề xung quanh nó đã được ông triển khai trong di cảo ? Người chạy việt giã ấy đã dừng bước, trước ngưỡng cửa của gần hai mươi năm thứ hai, cho ý tưởng lớn thứ hai chuẩn bị được sinh thành…
Khách quan mà nói, Nguyễn Ngọc Chương có đầy đủ phẩm tính của một nhà dân tộc học, một nhà dân tộc học xuất sắc. Ông có óc liên tưởng, chuyên tâm điền dã sưu tầm, lại là người có tài năng phát hiện, trong đó có những phát hiện độc sáng. Nhưng cái ông thiếu là một sự chuẩn bị để trở thành nhà khoa học. Sự nghiệp khoa học đến với ông đã trễ tràng lại còn quá bất ngờ, rồi sau đó, bị quyết định bởi cảm xúc và ý thức tự nhiệm với ý tưởng của mình. Ông viết trong cảm xúc, như là cho mình, cho một nhóm bạn xung quanh mình. Nên ông gọi là tùy bút. Mà đã vậy thì khó lòng đòi hỏi ở đó cái khắt khe nghiệt ngã của khoa học, nó sẽ làm chết yểu cái mộng mơ của ý tưởng. Song xét đến cùng, nếu bỏ qua những tiểu tiết, chỉ đánh giá giả thuyết và cái hệ hình được đưa ra để triển khai cái giả thuyết ấy thì một sự tư biện như Nguyễn Ngọc Chương trong việc nghiên cứu biểu tượng trầu cau, vì thế, trong ngọn đuốc mà ông tiếp sức, giá trị ở cả khía cạnh đặt giả thuyết khoa học và cách thao tác với giả thuyết ấy, là cái mà nghiên cứu văn hóa ở ta còn đang yếu và thiếu.
 |
| Đọc Nguyễn Ngọc Chương, tôi nghĩ, cả mặt mạnh và mặt yếu của ông hình như đều ít nhiều gắn với mảnh đất nơi ông sinh ra và mảnh đất nơi ông sinh sống. Xứ Đoài cho ông cái lãng mạn của mây trắng, cái đằm thắm của sông xanh, cái bền chắc của đá ong và cái khí khái không chịu khuất phục của con rồng bướng Sài Sơn; Kinh kỳ đã phát dương thêm cái khí chất ấy, cấp thêm vào cái tinh tế, tài tình. Như đất đá ong, khi được lấy lên khỏi lòng đất mẹ, bắt gặp không khí thì rắn lại, càng lâu càng bền, người xứ Đoài khi xa quê hình như mang theo cái đặc tính ấy.
Khi Nguyễn Ngọc Chương lặng lẽ ra đi, người ta mới dậm dịch sát nhập Hà Tây vào Hà Nội, rồi có người thì cuống lên sợ văn hóa xứ Đoài, văn minh phủ Quốc sẽ mất đi. Hình như sự thật thì ngược lại, sự tan rã của một truyền thống văn hóa không thô sơ đến thế, không cơ học đến thế. Người ta cứ tha hồ tách ra rồi nhập vào các đơn vị hành chính nhưng sự tách nhập ấy sẽ chẳng ăn nhằm gì tới việc biến đổi văn hóa vùng nếu con người nơi ấy không định biến mình thành kẻ mất gốc, hoặc giản dị hơn, biết điềm tĩnh đón nhận nó, lấy cái nhu chế cái cương, dĩ bất biến địch vạn biến. Bởi văn hóa xét đến cùng phải là con người, mẫu người, trong cả việc sinh thành và phát triển văn hóa, chuyên chở văn hóa. Vậy thì vì sao Nguyễn Ngọc Chương vẫn nảy sinh nỗi lo lắng về văn hóa xứ Đoài như đã nói ở trên ? Ông lo lắng về vùng đất hay lo lắng về con người? Tôi cứ băn khoăn, nếu “con chim sắp chết hót tiếng hót hay”, thì “người mẫu và mẫu người”, có chăng là một gợi ý, chí ít là cho riêng tôi, trong học thuật và cả trong cuộc đời !
Song Nhật
______________
(1) Ngoài phần di cảo chưa công bố, Trầu Cau Việt Điện thư là công trình khoa học lớn nhất của Nguyễn Ngọc Chương. Cuốn sách vốn đã được bạn bè giục giã in từ sớm, nhưng vì vẫn muốn gọt giũa, thêm thắt nên mãi đến năm 1990, ông mới đồng ý để Sở Văn hóa Hà Nam Ninh xuất bản. Sáu năm sau (1996), Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh tái bản lần đầu.
(2) Đỗ Lai Thúy, “Nguyễn Ngọc Chương: Việt Nam, anh là ai ?”, trong sách: Chân trời có người bay (chân dung các nhà nghiên cứu), (in lần thứ hai), Nxb. Văn hóa – Thông tin, Hà Nội, 2006, tr. 229.
(3) Cũng trong khoảng thời gian Nguyễn Ngọc Chương phát hiện ra mật mã trầu cau đã được ông kể lại trong Tùy bút của tác giả in đầu sách Trầu Cau Việt Điện thư, ông đã công bố 2 bài viết trên Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử:
- Trống đồng Ngọc Lũ, N0141, tháng 12-1971.
- Sự kiện về cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, N0146, tháng 10-1972.
Sau Trầu Cau Việt Điện thư, ông tiếp tục dự định nghiên cứu Trầu Cau Nhất nguyên thư. Từ đó đến khi ông qua đời, khi 2 cuốn sách tiếp theo mới được con cháu ông hình thành bản thảo, Nguyễn Ngọc Chương chỉ công bố thêm một bài viết nữa trên Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật: Giá trị của truyện Trầu Cau, N0204, tháng 6-2002, tr. 49-55.
(4) Cách gọi hôn nhân sóng ba ở đây của Nguyễn Ngọc Chương ít nhiều đã được “Trầu Cau hóa”. Bản chất của kiểu hôn nhân trong trầu cau vẫn là hôn nhân sóng đôi nhưng đã ở giai đoạn chuẩn bị bước sang hôn nhân sóng đôi một vợ một chồng, khi vai trò người đàn ông được khẳng định. Trong đời sống nguyên thủy, đó không phải là quan hệ giữa hai ông chồng với một bà vợ (kiểu cụ thể như trong Sự tích Trầu Cau hay Sự tích Táo quân) mà là xác định vị thế bình đẳng tương đối giữa ba bộ phận xã hội có vai trò chủ chốt : những người vợ - những người chồng – những người em trai vợ (người em Cậu). L. H. Morgan là người đặt nền tảng cho lối phân kì này trong tác phẩm Xã hội cổ sơ, sau được F. Engels phát triển trong công trình Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước. Song Nhật
|