TRANG CHỦ BÀI ĐỌC NHIỀU NHẤT BẠN ĐỌC VÀ TÒA SOẠN ĐẶT VIETIMES LÀM TRANG CHỦ
Người quan sát Đối thoại Việt Tiếng gọi số phận Chuyên đề Tính cách Việt Nhiệt kế văn hoá Câu lạc bộ tỷ phú Khoa học giới tính Ngàn ô cửa thế giới
Tìm kiếm :
  

Nguyễn Ngọc Chương và “nhân duyên” với trầu cau (Phần I)
Thứ tư, 29/10/2008, 07:00 GMT+7

Mây ở đầu ô mây lang thang

Ôi! Chật làm sao

Góc phố phường

Mây ở đầu ô

Hẹn những chân trời xa lạ…

(Quang Dũng)

Con ngõ nhỏ, không đủ sâu, nối phố Huế với phố Triệu Việt Vương mà yên ắng đến lạ. Ngõ Tràng An tiêu biểu cho hồn cốt những ngõ nhỏ, phố nhỏ của đế kinh một thuở, làm nên một nốt lặng, hiếm thấy, của thủ đô đang tăng tốc, đô thị hóa, hội nhập và toàn cầu hóa… Lặng lẽ như ngõ phố là một ẩn nhân “cư trần lạc đạo”. Cái “Đạo Cau” mà ông đốn ngộ và tu trì khiến tôi muốn gọi ông, bằng tất cả sự kính trọng trong đời sống và trong học thuật: Nhà nghiên cứu văn hóa Nguyễn Ngọc Chương.

Nguyễn Ngọc Chương sinh năm 1920 ở tổng Hoài Đức, phủ Quốc Oai cũ (huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây khi chưa sát nhập vào Hà Nội). Mười sáu tuổi ra Hà Nội theo học trường Bưởi, rồi học trường Trí Tri của cụ Nguyễn Văn Tố. Năm 1956, chính thức vào làm việc ở Bộ Văn hóa, được phiên chế làm cán bộ của Cục bảo tồn bảo tàng. Cả cuộc đời đôn đáo đi lại các di tích văn hóa lịch sử, đền đài, miếu mạo khắp mọi miền đất nước cũng chẳng mảy may khiến anh công chức “chân chỉ hạt bột” ấy nghĩ đến chuyện mình sẽ trở thành một nhà nghiên cứu văn hóa ; và, chính các chuyến công tác lại là nghiệm trải điền dã kiểu các nhà dân tộc chí, đợi một ngày “ngồi nhàn” huy động vốn liếng bỗng chốc vươn vai biến thành… nhà nhân học văn hóa.

Con đường bước vào khoa học của Nguyễn Ngọc Chương đầy bất ngờ, nhưng là bất ngờ chỉ có được ở một người hay ưu tư và giàu óc liên tưởng. “Suốt đời tôi, tôi không nhớ được bao nhiêu lần nhận chia trầu cau, và không bao giờ tôi để ý đến một sự việc quá bình thường đến vậy. Một hôm vào những năm 1970, một cô gái duyên dáng, dịu hiền, nết na, e thẹn vào nhà tôi mang đến chia trầu cau cho cô em gái của cô, đặt trên một đĩa sứ trắng. Cô vừa ra khỏi một lúc thì còi báo động và tiếng máy bay xa rồi to dần, chắc cô cũng đang vào hầm trú ẩn lúc này, hoặc nép vào một bức tường, một cái cổng không quen biết nào đó. Một ý nghĩ thoáng qua trong đầu tôi, cái việc nghìn lần không gợi ý cho tôi một cái gì, thì lần này làm tôi tự hỏi: tại sao một hành động nhỏ như thế mà một thiếu nữ bất chấp cả máy bay siêu âm đến bắn phá và rải bom đạn. Hẳn có một cái gì”. Hình như chỉ vậy: hẳn có một cái gì đã là nguyên cớ nảy sinh một ý tưởng: trầu cau là một mật mã văn hóa mà việc giải mã trầu cau sẽ thấy được cội nguồn văn hóa Việt Nam.

Vào cái tuổi “tri thiên mệnh”, lại trong hoàn cảnh thủ đô Hà Nội từng ngày giờ phải chống trả với máy bay bắn phá của giặc Mỹ, ngỡ tưởng phút lóe sáng rồi sẽ chỉ trở thành câu chuyện bên bàn trà của các bậc cao niên. Nhưng không. Ông đã đánh đổi cho một hành trình thám mã dài tới gần hai mươi năm cho công trình đầu tiên trong dự định nghiên cứu. Bắt đầu ở độ tuổi mà nhiều nhà khoa học đã kịp thành danh, đưa ra sản phẩm đầu tiên khi đã bước vào tuổi “xưa nay hiếm”, điều gì đã khiến ông bền bỉ đến vậy, và thành công đến vậy trong Trầu Cau Việt Điện thư (1) ? “Tôi làm công trình này như một “kẻ được lựa chọn”, ông chia sẻ với Đỗ Lai Thúy - chiếc cầu nối tôi đến với ông - Trước đấy, tôi đâu có ý định làm khoa học. Nhưng rồi cái gì đến đã đến. Tôi cho rằng người trước tôi chắc chưa có đủ điều kiện để giải quyết vấn đề vì thời đại chưa tìm ra phương pháp, còn người sau tôi thì do không thấy cái ngon của một quả cà muối” (2). Song tôi nghĩ, trước khi là “kẻ được lựa chọn”, Nguyễn Ngọc Chương đã là người dám, đúng hơn là biết “chọn lựa”. Xin nghỉ hưu “non” là lựa chọn thứ nhất. Từ bỏ những thành công bước đầu trong nghiên cứu cổ sử là lựa chọn thứ hai (3). Ông thành nhà nghiên cứu văn hóa.

Với Nguyễn Ngọc Chương, trầu cau là một biểu tượng văn hóa, biểu tượng trung tâm của văn hóa Việt. Vì vậy, có thể tìm hiểu văn hóa Việt Nam từ/ qua (và bằng) biểu tượng trầu cau, tức một cách tiếp cận văn hóa từ cổ mẫu (archétype), mà Nguyễn Ngọc Chương gọi là nguyên mẫu, là cái kết tinh cao nhất của biểu tượng (symbol).

Nếu nguyên mẫu trầu cau chứa đựng trí nhớ tiềm ẩn của dân tộc Việt Nam thì hình thể trầu cau, vì vậy, là biểu hiện của một kiểu cấu trúc cái bản sắc Việt Nam, mà muốn dò tìm nó, phải giải mã được những tín hiệu văn hóa được ký thác trong đó. Ở góc độ này, trầu cau là một mật mã. Mật mã phát ra những thông điệp văn hóa. Đón bắt những thông điệp trầu cau, Nguyễn Ngọc Chương đã lọc lựa và tập trung sự chú ý của mình vào mấy điểm : 1. Kiểu hôn nhân sóng ba : Tân – Lang – Lưu trong huyền thoại về trầu cau; 2. Màu thắm đỏ khi nhai cau – trầu – vôi với nhau; 3. Vai trò của cây cau, như là vị thế chủ chốt trong “quan hệ tay ba” kia, “thành phần chủ yếu về mặt ý nghĩa” của kết hợp, với đời sống văn hóa dân tộc. Xoay quanh ba vấn đề này để tiến hành giải mã, Nguyễn Ngọc Chương muốn xác tín giá trị văn hóa của trầu cau, và qua đó, dẫn dụ người đọc khám phá vẻ đẹp bí ẩn của văn hóa Việt. Bởi theo ông, “sự quan tâm của chúng ta ở đây (tức Trầu Cau Việt Điện thư - SN), thực ra không phải là những biểu tượng, mà là chúng ta muốn đọc một cuốn sách, như Việt Điện thư”. Đó là một giả thuyết hợp lý. Nó quán xuyến từ ý tưởng đến thao tác và làm nên thành công của công trình. “Trầu cau, Nguyễn Ngọc Chương viết – như trong khảo cổ học, là cái thuổng đào sâu trong lòng đất của tư duy. Nếu cái thuổng của nhà khảo cổ là cái để đào bới trong lòng đất, phát hiện hiện vật thì trầu cau là dụng cụ để dò tìm, phát hiện ra tâm tư của người Việt cổ”. Vì lẽ, “dựng nguyên mẫu là một quy luật nhận thức nguyên sơ. Soi vào nguyên mẫu có thể biết mọi nền văn minh thì nguyên mẫu là chiếc chìa khóa, là khuôn thước để đo lường và tìm ra nguyên chất nên có khả năng như đá thử vàng mà kiểm nghiệm mọi nền văn minh. Ta tìm thấy nguyên mẫu trầu cau tức là ta tìm ra ta, là điều may nhất, xuyên suốt quá trình sống, cho đến nay, cho mai sau”.

Chú ý đến ba đặc điểm của cấu trúc nguyên mẫu trầu cau như trên, Nguyễn Ngọc Chương quan tâm đến sự kết dính “ba trong một” của nội cấu trúc và mở rộng sang những liên hệ khác trong tiến trình lịch sử. Nếu cây cau là cái gốc của bộ ba, thì nó là phải cái nguyên khởi của sự đâm cành rẽ nhánh, nó gắn với cây đời, cây gốc, nguyên sinh. Theo Nguyễn Ngọc Chương, ở bề mặt, đó là cây thuộc họ cau cọ, cung cấp chất bột (bột nhúc, bột quang lang,…) nuôi sống con người ở trước thời kì văn minh cây lúa ; ở bề sâu biểu tượng, đó là cây tộc mẹ, cây mẫu hệ trong văn hóa nhân loại. Bởi trong sự liên tưởng với màu máu thắm đỏ (khi nhai trầu), thì cây cau còn gắn với cây hiến sinh (trong lễ đâm trâu vẫn còn tìm thấy tàn dư ở các tộc thiểu số Tây Nguyên). Cây Gơnơng (nơng, nang là từ gốc chỉ cây cau) được dựng lên trong những dịp tế lễ trọng đại của đồng bào Srê Tây Nguyên. Đó là một cây nêu có hình dáng như cây cau, trồng ở giữa bãi hội dùng để buộc trâu hiến sinh. Khi đâm trâu, người ta lấy máu đó bôi vào cây nên cây còn được gọi là cây đỏ. Cây đỏ là giáo lý cho sự bỏ mình vì cộng đồng, biểu tượng cho lòng hỷ xả, sự biết ơn đối với tổ tiên tổ vật.

Như vậy, ở cấp độ liên tưởng này, biểu tượng trầu cau tìm được ý nghĩa xã hội của nó trong lễ hiến sinh. Cũng như trong bộ ba cau – trầu – vôi, lễ đâm trâu cũng được cấu thành bởi ba bộ phận : cây Gơnơng – dây cự li Bra (sợi thừng) – trâu, trong đó cây Gơnơng cũng giữ vai trò chủ đạo. Sự tương đồng giữa cây Gơnơng (là hình tượng của cây cau) với sừng trâu, ở chỗ cùng có sự phân chia đốt – sừng đã gợi liên tưởng cau và trâu mang cùng một bản chất. Biểu hiện khác biệt có chăng ở chỗ, cau là thực vật, biểu tượng của cây nguyên sinh, cây mẹ, mẫu hệ ; còn trâu là động vật, biểu tượng cho lớp con (như người Việt tự nhận mình là “min” (tức con trâu), người Srê tự nhận mình là “con Cau”), phụ hệ. Và chính ở chỗ này, Nguyễn Ngọc Chương đã có được một liên tưởng táo bạo : lễ đâm trâu không khác gì hơn là diễn lại cái tích chặt cây mẫu hệ để hình thành xã hội phụ hệ (như tích chặt cây Chu trong Đẻ đất đẻ nước, tích chặt cây Kơpô trong Đam Săn,…). Đó là một tiết đoạn nhảy vọt trong quá trình phát triển tiệm tiến của lịch sử loài người : các tộc mẫu hệ nhánh sinh ra từ tộc mẫu hệ duy nhất bị phủ định để hình thành tộc phụ hệ. Biểu tượng trầu cau được đẩy về thời nguyên thủy để chỉ ra vết tích của cuộc đấu tranh từ hôn nhân sóng ba sang hôn nhân sóng đôi một vợ một chồng, tức là giai đoạn chuyển từ mẫu hệ sang phụ hệ (4).


Vậy, đặt biểu tượng trầu cau vào diễn trình phát triển của lịch sử nhân loại, Nguyễn Ngọc Chương muốn tìm gì trong đó để minh chứng nó là căn cốt văn hóa Việt Nam ? Câu trả lời nằm trong sự tương đồng giữa cau và trâu, hai lớp biểu tượng xếp chồng lên nhau trong diễn trình phát triển. Như đã nói ở trên, cau và trâu đều là cái một (một thân, một sừng) phân thành các đốt, nghĩa là từ cái một mà nảy sinh ra tất cả. Trâu – cau, đốt – sừng, là biểu trưng của nguyên lý nguyên – phân, thực – sinh, là quy luật phát triển của vạn vật. Vì vậy ở Việt Nam, mà rộng ra là quyển văn hóa trầu cau Nam Á được G.Lebreen tái dựng trong bản đồ vùng trầu (xem Phụ lục sách Trầu Cau Việt Điện thư - SN), trầu cau hiển nhiên là biểu tượng trội.

Để giải mã trầu cau, Nguyễn Ngọc Chương đã huy động một dữ liệu khổng lồ các tàn dư văn hóa khả dĩ có thể liên hệ đến biểu tượng này. Bằng óc liên tưởng tài tình và vốn kiến văn sâu rộng, ông đã chỉ ra một cách hệ thống dấu ấn của cau và trâu ở hầu hết các thời kỳ phát triển của văn hóa Việt Nam. Cau và trâu để lại dấu vết trong huyền thoại sinh nòi lập nước; dấu tích trong văn hóa vật chất, văn hóa tổ chức đời sống xã hội; dư hưởng trong đời sống của đồng bào Trường Sơn – Tây Nguyên, “khu rừng Đông Dương” trong mắt các học giả nước ngoài muốn nghiên cứu về văn hóa nguyên thủy. Ở đây, những tàn dư trong sinh hoạt văn hóa của tộc người Trường Sơn – Tây Nguyên vốn đang ở giai đoạn manh nha có giai cấp, còn mang nhiều tàn tích của đời sống nguyên thủy, đã đặt biểu tượng trầu cau vào thời điểm tương ứng của sự sinh thành ra nó được ghi dấu trong huyền thoại (Sự tích Trầu Cau), khiến những liên tưởng trực tiếp và rõ ràng hơn. Nhưng biểu tượng trầu cau trong các xã hội phát triển về sau, khi đã có hàng loạt những trầm tích văn hóa khác bồi phủ, thì những liên tưởng trở nên khó khăn hơn rất nhiều. Thậm chí, những biểu tượng vốn hình thành trên cùng một nguyên lý, có chung một bản chất nhưng được biểu hiện ở những hình thể khác nhau, mà khi đặt cạnh nhau vẫn khiến người ta không thể kết nối được liên tưởng. Đó là cái cách mà “con Cau” trở thành “nàng Kiều”, thành Tân Lang, “chàng mới” ; là làng Việt, những “kẻ la”, những “thập bát phù viên”, mười tám thôn vườn trầu, thành “lang miếu” triều đình ; là từ hình thể cây cau, cây hiến sinh thành Chùa Một Cột, thành cột Xã Đàn ; từ giàn trầu, vườn trầu biến thành tháp bà Kautara Pô-Nagar, tháp Pô-Klaun Garai trên đồi trầu Bôn-Hala ;… Và đến bài ca dao : “Con mèo mà trèo cây cau…” thì khó lòng mà phân biệt được đâu là văn hóa Trầu Cau Nam Á khởi thủy, đâu là văn hóa Dịch kinh “âm dương tiêu trưởng” mãi sau này mới phát triển.

(Còn nữa)

Song Nhật

Ý kiến của bạn về bài viết này
  Tắt Telex Vni
Họ và tên:   
Địa chỉ:  
E-mail:   
Điện thoại:   
File gửi kèm:    (Max 100KB)
File gửi kèm:    (Max 100KB)
File gửi kèm:    (Max 100KB)
Tiêu đề:   
Nội dung:   
   
CÁC TIN KHÁC
Bước quân hành "độc nhất vô nhị" của tướng quân Nguyễn Sơn (Phần II)  (21/10/2008)
Bước quân hành "độc nhất vô nhị" của tướng quân Nguyễn Sơn (Phần I)  (17/10/2008)
Nhân chứng sống xuyên suốt gần thế kỷ  (20/09/2008)
Vĩnh biệt một “bác học tướng”  (10/09/2008)
Những tượng đài của lòng ái quốc  (15/07/2008)
Phan Cẩm Thượng - người “đo” tín hiệu của người xưa (Phần 4)  (14/07/2008)
Phan Cẩm Thượng - người “đo” tín hiệu của người xưa (Phần 3)  (11/07/2008)
Phan Cẩm Thượng - người “đo” tín hiệu người xưa (Phần 2)  (10/07/2008)
Phan Cẩm Thượng - người “đo” tín hiệu của người xưa (Phần I)  (09/07/2008)
Mạc Can: Cuộc đời của người không định viết... văn  (05/06/2008)

Mạc Can và nghệ thuật phóng dao
"Đại tá" an ninh Nguyễn Tài và cuộc đối mặt với CIA
Mạc Can: “Người nói tiếng chim bồ câu…”
Ôi sơn nữ, bài ca đức hạnh của tôi! (Phần II)
Người kể nốt câu chuyện về Phùng Quán (Phần II)
Ôi sơn nữ, bài ca đức hạnh của tôi! (Phần I)
Người kể nốt câu chuyện về Phùng Quán
Chuyện về người tung hoành miền Tây Bắc (phần II)
Ký ức lộn xộn về “nhà triết học số 1 Châu Á”
Chuyện người dám trùng tu những "thiền cốt"
Một cánh rừng xanh, một vùng trời thắm
Chuyện về người tung hoành miền Tây Bắc