|
Sự mâu thuẫn ấy, nó giống như một vai hề trong gánh xiếc mà cậu bé Mạc Can suốt cả tuổi thơ đã phải giấu mình trong đó. Dường như cho đến khi trở thành một anh hề xiếc giữa gánh hát cuộc đời, ông vẫn không được thực sự sống cho mình, thở cho mình, nghĩ cho mình… Ngay cả tiếng nói, Mạc Can cũng không dám nói bằng ngôn ngữ của chính mình, mà phải nói bằng… tiếng chim bồ câu…
“Hiện tượng văn học Tp Hồ Chí Minh năm 2005 - Mạc Can” là những mảng màu tranh tối tranh sáng, như những tia nắng xiên xẹo trên bức tường rêu phong cũ kỹ…
|

|
|
“Hiện tượng Mạc Can” là những mảng màu tranh tối tranh sáng, tựa như những vệt nắng xiên xẹo trên bức tường rêu phong ẩm mốc… - Ảnh: Di Linh
|
Tôi gọi điện cho Mạc Can qua số máy của một đồng nghiệp phía Nam cung cấp, xin hẹn một buổi tiếp xúc, trò chuyện…, đại loại là một cuộc nói chuyện hết sức nhẹ nhàng, không đao to búa lớn, không có hai chữ “phỏng vấn” trong đó… Tiếng chuông điện thoại đổ. Một giọng nói rề rà, ấm áp và nhẹ nhàng của miệt sông nước miền Tây, một thứ ngôn ngữ không khách sáo, nhưng sao nhiều tiếng “dzạ, dzạ…” khiến tôi thấy e ngại. Ông Mạc Can mà tôi muốn gặp, những thông tin về ông, tôi đã tìm hiểu nhiề̀u như một thao tác mang tính chất nghiệp vụ cần phải có! Còn về phía Mạc Can, những thông tin về tôi là một con số 0 tròn trĩnh. Không có những câu hỏi mang tính chất dò xét, đại loại: chú ở đâu? chú gặp tôi có chuyện chi…? Nhớ lại lời dặn của đồng nghiệp: “Gặp Mạc Can dễ thôi mà…”. Nhưng tôi hiểu, dễ ở đây không phải là dễ dãi…
Cuộc “trà dư tửu hậu” của Mạc Can đang diễn ra trên chiếc ghế đá giữa sân vườn Hội Nhà văn Thành phố (62 - Trần Quốc Thảo), cùng với một “ông bạn già” mang mục kỉnh trễ sát chóp mũi. Nắng sớm xiên xẹo trên bức tường rêu loang lổ. Tôi không cắt ngang câu chuyện đang dang dở, lặng lẽ ngồi vào chiếc ghế trống. Đối diện với tôi, ông già Mạc Can ngoài đời bằng xương bằng thịt, hiện hữu với chiếc áo gi-lê nhiều túi cánh phóng viên thường mặc; chiếc mũ bê-rê lệch sang một bên; đôi giày vải đã được giải phóng tự bao giờ, nằm sấp ngửa trên mặt đất. Trên mặt bàn đá, hai li trà đá đã vơi phân nửa. Mấy điếu thuốc lẻ đã sắp hết. Mấy tờ bản thảo gập hững hờ trong tờ báo cũ… Ngập ngừng. Một lát, Mạc Can nghiêng mắt nhìn tôi, nụ cười hồn nhiên như trẻ thơ: “Tôi thấy chú cũng có cái thân thiện, thật lòng, nên có thể tâm sự được với chú… Tôi vừa có món tiền nhuận bút 250 ngàn ở một tờ báo, sẽ chiêu đãi chú trà đá sáng nay”… Một lượt trà đá mới. Một lượt thuốc lẻ lại được cô hàng nước mau mắn mang đến. Ai nói Sài thành vội vã và náo nhiệt? Riêng buổi sáng hôm nay, dưới góc vườn này, điều đó không còn đúng nữa…
|

|
|
Nụ cười Mạc Can bây giờ không còn móm mém nữa, bởi một điều dễ nhận, ấy là Mạc Can đã có một “phom” mới, khi được nhận món quà từ đạo diễn của “Cải ơi”… - một bộ răng mới! - Ảnh: Di Linh
|
Tôi hỏi: nhà chú ở đâu? Mạc Can chỉ cười. Nụ cười không còn “méo” như trên bìa cuối của cuốn sách “Tấm ván phóng dao” – tác phẩm đã đặt dấu ấn để Mạc Can có thêm một chức danh mới: "nhà văn" trong số rất nhiều những danh từ đứng trước cái tên của mình. Ông lại ngó lơ như nắng sớm Sài Gòn xiên xẹo trên bức tường ẩm mốc, nhường lời cho chàng trai trẻ đứng kế bên góp chuyện: “Ổng đâu thèm ở nhà. Ổng cứ đi lang thang hoài à. Cái góc vườn 62 Trần Quốc Thảo này cũng là nhà của ổng…”. Tưởng nói chơi, ai dè đó là sự thật. Giới báo chí Sài Gòn, giới văn nghệ Sài Gòn đã nhân chuyện Mạc Can “xin vợ ra ở riêng” để “dựng” thành một bài báo “hoành tráng”! Ấy là khi Mạc Can đã hoàn thành nghĩa vụ người, đã cháy đến lầm lụi chất dầu thẩm thấu trong ruột sợi bấc, lo dựng vợ gả chồng cho con cái, lo chắt chiu trả nợ ngôi nhà trả góp… Khi những nghĩa vụ, những trách nhiệm ấy đã hoàn thành, Mạc Can ngỏ lời với vợ: “Bà ơi, năm nay tôi đã 63 tuổi rồi. Tuy tôi nghèo thật, nhưng đã lo cho ba đứa con có gia đình riêng, tôi mượn nợ mượn nần mua nhà cho chúng. Mấy chục năm nay tôi cũng đã mệt rồi, bây giờ bà cho tôi ra riêng. Ra riêng cũng vầy hà. Tôi ước ao được đi chơi. Tôi có điện thoại di động. Chừng nào bà nhớ tôi, hay có chuyện gì cần cái mặt tôi, bà chỉ cần nhắn: Ông Can ơi, ông về nhà với tôi, tôi sẽ về liền…”. Mạc Can bảo: “Già rồi. Mà tính tôi cũng đâu có lằng xằng chuyện này nọ. Chỉ là rong chơi thôi. Chỗ này chỗ khác một tý…”. Vậy là Mạc Can ở riêng. Chiếc xe gắn máy gắn bó với ông mấy chục năm, trở thành “cái nhà di động”. Phía sau “gạc-ba-ga” là một túi dết to tổ chảng, trong đó có tất tật mọi thứ: đồ dùng sinh hoạt cá nhân, bộ quần áo, và… trang phục diễn viên!
Nhưng đâu phải sự “trốn chạy” của Mạc Can vì lý do rất chi… cà tửng ấy!? Cuộc đời của một cậu bé nhận vai hề, trong một gánh hát xiếc rong ruổi theo những kênh rạch chằng chịt miền Tây, đã ăn vào máu của Mạc Can, và đã vận cho Mạc Can một thói quen xê dịch như thế. Nó cũng là sự quay trở lại để tìm chất liệu cho những tác phẩm mà Mạc Can sắp viết, về đêm, trong một gác xép nhỏ xíu, với một chiếc máy tính, mà theo Mạc Can “khoe”, đó là món quà của một người bạn tặng. Nhưng chiếc máy tính ấy nó cũng đã “già” lắm rồi. Nó phải được “chèn” một miếng báo để cho màn hình sáng lên, để cho “phu chữ” Mạc Can cặm cụi, cần mẫn… viết lách, sắp từng chữ, từng chữ, thành từng hàng, từng hàng…
|

|
|
Thế nhưng, đôi mắt ấy nó vẫn nhuốm một vẻ buồn cố hữu, ánh mắt của những người phó thác cuộc sống của mình cho những con kênh, lênh đênh cùng sông nước… - Ảnh: Di Linh
|
Sáu tuổi. Lê Trung Cang trở thành một “diễn viên xiếc” nhí của gánh hát do chính ba má mình làm bầu. Ghe hát gia đình, gồm có 8 diễn viên. Ba má chú bé Cang là những đào kép chính, sắm những vai chính. Lê Trung Cang đảm nhiệm vai trò hoạt náo, làm đủ mọi chuyện trên đời: chân chạy đạo cụ, sắp sân khấu trong mỗi lần ghe tấp vô một bến nào đó; làm chân “tiếp thị” bắc loa mồm đi loa loa cho bà con biết để tối nay còn đến coi đám hát; giặt đồ, trang phục diễn; lên sân khấu diễn những trò lí lắc để lấp thời gian trống, không để sân khấu “chết”. “Cái anh hề xiệc ấy, tưởng như nó là vai dở ẹc nhất, nhưng khó vô cùng. Anh hề phải làm ra những tiếng cười cho bà con; phải vận vào mình những khuôn mặt ở đủ trạng thái: khi là vô hồn, khi là trống rỗng của một cái đầu không có biết chi hết; đi trên dây vờ té nhưng không được ngã, tung hứng mấy trái bóng giật tới giật lui, cà tưng cà tưng, làm bộ vụng về để rớt trái bóng vô trúng đầu…
Người anh trai của Cang giữ vai biểu diễn màn phi đao về phía bé gái đứng dang tay dang chân. Những con dao là có thật. Chúng sắc, nhọn và vô tình. Sự sợ hãi của người phóng dao là có thật, dù buổi hát nào cũng diễn màn phóng dao như thế. Cô bé trong “Tấm ván phóng dao” chính là người em gái của cậu bé Cang. Con bé mảnh khảnh, gầy như củ khoai dãi. Dù đã quen những lưỡi dao sắc nhọn xé gió lao về phía mình, nhưng làm sao tránh được sự sợ hãi cố hữu? Người phi dao. Người đứng làm bia đỡ dao. Cậu bé hề lăng xăng chạy tới chạy lui làm những động tác tưởng như vô nghĩa, lúc xớ rớ làm rớt lưỡi dao xuống đất, lúc miết lưỡi dao lên tay rồi lăn đùng ra đất vì sợ hãi cái sắc nhọn của nó, lúc vụng về chạy tới rút những lưỡi dao đã phóng trên tấm ván để tiết kiệm thời gian cho người đứng phóng…
Người phóng dao là anh trai của chú hề xiệc. Người đứng làm bia đỡ là em gái của chú. Mồ hôi rịn trên mặt vì sợ hãi: chỉ một chút sơ sẩy, lưỡi dao sẽ cắm vào chính đứa em gái ốm o của mình. Khán giả hồi hộp nghẹt thở. Người trong cuộc còn nghẹt thở gấp bộn lần. Sự sợ hãi của ba anh em gánh hát rong đánh đổi lấy sự hiếu kỳ của khán giả… Cái cảm giác nặng nề tê tái ấy, đã ám ảnh Mạc Can ròng rã cả cuộc đời, để đến tận khi trở thành cậu bé 60 tuổi, anh hề xiệc vụng về ấy mới dám công khai nỗi sợ hãi của mình trong tác phẩm. Đấy là sự hờn dỗi thời vụng dại. Đấy là sự bạc bẽo của gánh hát rong ruổi theo những con nước, diễn trò mua nụ cười thiên hạ, để mưu sinh, biến mình thành những con rối, đưa mình vào đỉnh điểm của sự mâu thuẫn và giằng xé, khi phải trực tiếp chứng kiến, và tái diễn thật nhiều lần, cái cảnh man rợ của những đứa trẻ là anh em trong một nhà, thực hiện cái trò mua vui đau đớn đến man rợ ấy…
Mạc Can bảo, ông không có ý định đưa ra một vấn đề to tát, ấy là “sự nhức nhối của những phận người lênh đênh theo con nước, nay chỗ này, mai chỗ khác, lấy sinh mệnh của chính mình để đánh đổi lấy những đồng bạc lẻ vì chuyện mưu sinh…” như ai đó nhận xét về tác phẩm của ông… Nó đơn giản chỉ là sự trả nợ của những người trong gánh hát gia đình. Nó đơn giản chỉ là sự giãi bày những mâu thuẫn giằng xé đến đau đớn, của những người anh đem cái nguy hiểm và chết chóc đùa giỡn với sự sống của nhỏ em tội nghiệp! Thế nhưng, còn cách nào khác? Nếu không diễn trò tử thần ấy, gánh hát sẽ ế ẩm, sẽ không đánh vào được tính hiếu kỳ của người xem, để rồi từ đó mới dẫn dụ sự hào phóng dốc những cắc lẻ của họ ra mua một suất vé hèn mọn vào coi đêm diễn của gánh xiếc dạo? Bi kịch ấy, không phải chỉ của riêng gánh hát gia đình Mạc Can, mà đó còn là bi kịch chung của những ghe hát Nam Bộ thời bấy giờ, là bi kịch của những người làm con rối giữa sân khấu cuộc đời…
Mạc Can không nghĩ được sâu, được xa như những lời tán tụng, bình phẩm về “Tấm ván phóng dao”. Mạc Can chỉ có được sự dằn vặt đầy nhân tính, về sự ám ảnh của tấm ván mà mỗi một đêm diễn, nó hằn thêm những vết dao sắc nhọn lút vào đó. Mỗi một vết dao cắm vô tấm ván, là một lần run rẩy của nhỏ em gày gò, yếu ớt; mỗi một vết dao cắm, là một lần mồ hôi rịn đầm đìa và tim đập thình thịch lo lắng của người anh nhận vai “tử thần”; mỗi một vết dao cắm, là nước mắt chảy ngược vào bên trong của thằng nhỏ hề xiệc, lăng xăng chạy tới chạy lui, rút những con dao nhọn ra để tái diễn cái màn biểu diễn rùng rợn độc ác ấy… Nhưng mà không được khóc. Khuôn mặt vẫn tưng tửng cười để khán giả không cảm thấy đồng tiền mình bỏ ra là không xứng đáng!
 |
|
|
|
 |
|
...hay là những mảng tâm trạng, mà tựu trung, nỗi buồn bao giờ cũng nhiều hơn niềm vui. Cậu bé Cang nhận vai hề xiệc trong gánh hát rong năm nào, bây giờ đã qua được bao nhiêu mùa nước nổi? Ảnh: Di Linh
|
Nỗi sợ hãi ám ảnh ấy lớn dần lên cùng những đứa trẻ. Cảnh sống sông nước vùng nào cũng nhuốm một màu thê lương như nhau. Gánh hát gia đình tan tác khi cái khối day dứt ấy nó như một khối thuốc nổ, không có cơ hội được xả ra, tích tụ lâu ngày rồi vỡ òa trong một khoảnh khắc định mệnh… Những năm 60, khi cuộc chiến tranh bước vào thời kỳ quyết liệt, những con sông, những kênh rạch miền Tây lềnh phềnh xác người chết. Có những buổi, Mạc Can thấy mẹ lấy sào đẩy những xác người sang một bên, lấy lối cho chiếc ghe nặng nề đi về những miền tủi nhục…
Cuộc sống nổi trôi, nay đây mai đó đè nặng lên tuổi thơ Mạc Can. Nó giống như một căn bệnh tự kỷ đeo đuổi và gặm nhấm tâm hồn, để rồi, qua những khóc cười, một Mạc Can hiện lên qua những trang sách, là một mái đầu lúc nào cũng khẽ cúi xuống, gương mặt ngơ ngác, và đôi mắt ầng ậng không bao giờ khóc được thành nước mắt, vì những trò diễn năm xưa đã bắt buộc những diễn viên nghiệp dư ấy, một sự bắt buộc phải chai cằn, khi chứng kiến những bi kịch mà chính mình phải dựng lên như thế…
(Còn nữa)
Di Linh (Vietimes)
|