|
Tìm vợ cho chồng, chuyện không gì lạ
Cho đến tận bây giờ, thỉnh thoảng cái đám cưới kỳ lạ kia vẫn ám ảnh tôi. Đó là một đám cưới hay nhất tôi từng chứng kiến. Ông bác ruột tôi lấy vợ hai và người tổ chức chính là vợ cả. Hồi ấy tôi còn quá nhỏ, chưa hiểu chuyện gì. Chỉ thấy bác bá tôi không có con, rất nhiều năm họ đã chung sống và không thể có con. Một dạo, cứ thấy vợ bác tôi bàn bạc gì đó với mé tôi. Hai người họ quyết định sang bản bên xin cưới một người đàn bà muộn chồng cho bác tôi.
 |
|
Bên bếp lửa - Minh họa: A Sáng
|
Đám cưới ấy, bà vợ cả đã đi đón dâu. Người vợ lẽ được bà vợ cả che nón (phong tục đón dâu của người Tày) đến nhà chồng. Đám cưới tưng bừng như mọi đám cưới khác. Một năm sau bà hai sinh cháu trai. Sự vui mừng được nhân đôi và tôi thấy bác gái cả vui nhất. Bà chăm sóc con chồng như con đẻ của mình. Hai bà sống với nhau thật hoà thuận, chẳng bao giờ thấy to tiếng. Tôi vẫn ghen tị với thằng anh họ kia. Nó tự nhiên có hai mẹ, cái gì cũng hơn tôi, lúc nào cũng no đủ - nó thật hạnh phúc.
Với sơn nữ việc không thể có con là một bi kịch. Hình như thiên chức làm mẹ hay duy trì nòi giống là một việc cực kỳ quan trọng. Người quê tôi cưới vợ nhưng chưa được chính thức mang họ chồng khi chưa chứng tỏ được chức năng phụ nữ của mình. Phải mang bầu mới được phép ở lại nhà chồng và làm lễ mang họ, nói cách khác khi ấy gia đình chồng mới công nhận. Và cái bi kịch ấy đã diễn ra rất nhiều năm với vợ cả bác tôi. Dĩ nhiên bác gái tôi có thể bỏ đi, nhưng bà ấy đã không làm thế. Bà đi tìm vợ cho chồng để hoàn thành trách nhiệm của mình. Và đứa con trai kia cũng chính là của bà. Cái gì đã làm bà ấy hành động như vậy? Đó chính là trách nhiệm, đức hạnh ẩn sâu trong tâm hồn họ, sự hy sinh ấy đã nói lên tất cả.
Có người sẽ cho rằng, đó chỉ là sự chịu đựng đến nhu nhược của phụ nữ miền núi. Không phải thế, nếu một lần bạn chứng kiến sự trỗi dậy của họ, bạn sẽ không thể chịu nổi. Họ dám làm tất cả, chất phồn thực của họ thật mạnh mẽ, họ không hề yếu đuối.
Có một nhà thơ đã dựa vào những câu ca dao Tày để viết như thế này: Mùa hoa/ Mùa đàn bà/ Đủ sức vác ông chồng chạy phăm phăm lên núi/ Mùa hoa/ Mùa đàn ông/ Mệt như chiếc áo rũ/ Vừa vịn rào đi vừa ngái ngủ. Tôi rất thích bài thơ này vì đã nghe nó rất lâu từ những câu ca dao và được nhà thơ chắt lọc trở thành thi ca. Đúng như thế, người sơn nữ khi vào mùa hoa (được hiểu là mùa tình), họ thật mạnh mẽ, họ dám làm nhiều thứ. Đã rất nhiều anh bộ đội miền xuôi, cuối phiên chợ bị các sơn nữ “vác” lên núi thật. Họ đã yêu thì mê dại và chẳng cần biết gì - hiến dâng là điều quan trọng. Chỉ như thế mới là sơn nữ. Chuyện đó rất bình thường ở các phiên chợ quê tôi. Hình như đấy cũng là dịp họ chứng tỏ khả năng phụ nữ của mình. Sự trinh tiết chẳng nói lên điều gì với sơn nữ quê tôi. Họ cần chứng tỏ mình là con gái thực thụ, chỉ khi họ có khả năng ấy mới trở thành sơn nữ. Nói cho dễ hiểu, họ cần phải có chức năng làm mẹ, nếu không tất cả sẽ là bi kịch.
Và bác gái của tôi đã tự giải thoát bi kịch của mình bằng việc tìm vợ cho chồng. Bây giờ họ đã già, ba người sống với nhau rất êm đềm. Mỗi lần về quê, đến thăm họ, có một cái gì đó tận sâu thẳm trong tôi vẫn dâng trào. Khuôn mặt phúc hậu của bác gái vẫn ám ảnh tôi. Đó là biểu tượng cho đức hạnh và trách nhiệm – thiên chức quý giá của sơn nữ quê tôi. Họ thanh thản, hạnh phúc cũng là điều dễ hiểu.
Câu chuyện của gia đình tôi
Tôi đã suy nghĩ rất lâu khi kể câu chuyện này. Nhưng tôi cần phải kể vì đó là câu chuyện thật của gia đình tôi. Cũng đã nhiều lần tôi muốn cắt nghĩa nó, nhưng tôi thất bại, khả năng hiểu biết của tôi chưa đủ sức giải thích sự thật này. Câu chuyện có buồn nhưng mang một thông điệp rõ ràng nhất về đức hạnh của sơn nữ.
Người sơn nữ ấy chính là chị dâu tôi. Anh trai tôi là một trai bản hư hỏng, lãnh một bản án nặng - 12 năm tù giam. Khi ấy chị tôi mới mang bầu về sống với gia đình tôi. Chỉ bốn ngày sau khi anh tôi đi tù, chị ấy sinh con. Cả gia đình tôi rất ái ngại cho chị dâu, bị kịch đã giáng xuống chị tôi khi hạnh phúc chưa mỉm cười.
Anh tôi đi rồi, ngày ngày chị tôi vẫn lên nương làm rẫy, khuôn mặt lúc nào cũng buồn rười rượi. Nhưng chẳng khi nào chị tôi ta thán, với gia đình chồng vẫn dành sự tôn trọng đến tuyệt đối. Hồi ấy tôi bắt đầu đi học xa, thỉnh thoảng về nhà, cái dáng người tần tảo của chị vẫn làm tôi nao lòng. Bao giờ tôi đi chị cũng dậy rất sớm đồ xôi. Tôi nhớ mãi sự ấm áp của gói xôi chị gói bằng lá chuối dúi vào tay tôi. Và chị thường nói: chú học chăm chỉ nhé. Chị lại quay đi khuôn mặt buồn rười rượi. Chị lại làm việc, chẳng bao giờ ta thán.
 |
|
Người con gái quê tôi - Minh họa: A Sáng
|
Một năm sau pa tôi đổ bệnh, liệt nửa người. Mọi công việc trong gia đình đều đổ lên đầu chị tôi. Có lần tôi về, thấy chị đang dìu pa tôi tập đi bộ. Chị bảo bác sỹ hướng dẫn cách chữa bệnh liệt. Cứ thế hơn năm năm, ngày nào chị ấy cũng dắt pa tôi đi bộ trong sân. Vâng, năm năm - một khoảng thời gian không nhỏ, và việc chăm sóc một người liệt thì phức tạp vô cùng. Tất cả chị tôi đảm nhận. Sự bền bỉ của chị đã làm pa tôi đỡ hơn và tự đi được. Nhưng ông trời đã không thương, vào một ngày pa tôi đột quỵ, về với tổ tiên. Chị khóc, chị bảo với tôi: pa mất rồi, em phải học hành chăm chỉ, đừng phụ lòng pa.
Tôi thấy chị hơn cả con gái pa tôi, hơn cả con dâu với pa chồng, chị là cái gì đó thật đặc biệt. Tôi không biết giải thích thế nào, nhưng đó là sự đặc biệt đến kỳ lạ của đức hạnh chị ấy.
Rồi chị quyết định đi học, chị bảo phải trở thành cô giáo. Chị tự ôn luyện và thi đỗ vào trường Cao đẳng Sư phạm của tỉnh, chị ôm con đi học. Một lần tôi đến thăm chị ở ký túc xá. Mọi người đều đi ăn ở ngoài, duy nhất chị tự nấu. Chị bảo phải tiết kiệm, nhà mình khó nên phải tiết kiệm. Hàng tháng chị chỉ về nhà lấy vài chục cân gạo với ba chục quả trứng. Hai mẹ con chị ăn cơm với trứng rán ròng rã ba năm. Chị không có tiền để mua những thứ khác.
Đến bây giờ tôi vẫn không quên mùi trứng rán và cơm trắng của chị nấu cho tôi trong căn phòng tồi tàn của ký túc xá. Chị bảo ăn mãi cũng quen, học quan trọng hơn, bao giờ chị đi làm có tiền sẽ nấu thật ngon cho em. Chị cười cười, mồ hôi rịn trên trán. Tôi muốn rơi nước mắt, miếng cơm nghẹn lại. Khi tôi đi chị không quên giúi một quả trứng luộc, chị bảo đem đi ăn đường. Chị lại cười, mồ hôi vẫn rịn trên trán! Chị dâu tôi là ai? Tôi vẫn thường hỏi như thế! Cái gì đã giúp chị tôi vượt qua những cay đắng của cuộc đời này? Chỉ có thể nói đó là sự bền bỉ diệu kỳ của phẩm giá sơn nữ trong con người chị.
Bây giờ anh tôi đã về, bạc nhược và bệnh tật. Chị tôi lại chăm sóc, chẳng hề ta thán, chưa bao giờ oán trách. Hàng ngày chị đi dạy học, tối đến lại lo sắc thuốc cho người chồng bệnh tật của mình. Hình như ở chị chẳng có gì ngoài sự hiến dâng. Anh tôi - chồng chị - người chưa bao giờ đem lại chút xíu hạnh phúc nào cho chị là người may mắn. Tôi nghĩ thế. Cứ nhìn cách chị tỉ mỉ hướng dẫn uống thuốc, xoa bóp cho chồng mới thấy sự lớn lao ở người phụ nữ này. Phải, 12 năm vắng chồng, 5 năm chăm sóc bố và em chồng, 3 năm đi học với bao thiếu thốn… chị tôi vượt qua hết. Nó như một giấc mơ nhẹ bẫng đi qua khuôn mặt buồn buồn của chị. Đó là cái gì? Thật kỳ quặc! Tôi không thể hiểu nổi. Tôi chỉ biết tự hào về chị ấy! Chị tôi là sơn nữ mà!
Có người sẽ hỏi, bây giờ ở cái bản Pác Thay bé nhỏ của tôi sơn nữ có như ngày xưa không? Tôi không dám trả lời, giờ đây nhiều thứ đã khác. Sơn nữ quê tôi cũng mặc quần bò, cũng nhuộm tóc vàng, cũng đi xe máy… tất cả đã khác. Người Tày quê tôi cũng chịu sự chi phối của các nền văn hoá khác, đó là một tổn thương đáng sợ. Các phiên chợ cũng tan sớm hơn, người ta có uống rượu nhưng tỉnh lắm. Sơn nữ bây giờ chỉ uống bằng ly và má hồng chỉ bằng son phấn. Tôi nghĩ thế. Nhưng tôi tin, ở tận sâu thẳm tâm hồn họ vẫn còn hình bóng của sơn nữ gác giấc ngủ giữa rừng, còn trách nhiệm của bác gái tôi, còn đức hạnh của chị dâu tôi. Tất cả vẫn còn, điều quan trọng là ta biết khơi dậy những phẩm hạnh tuyệt vời ấy...
A Sáng (Vietimes)
|