|
Có một đêm - một đêm cũng rất đẹp nhưng buồn ở thành phố này. Đó là những năm sinh viên. Tôi có một người bạn gái, cô ấy rất quý mến tôi. Có thể trong mắt cô ta, tôi hiện lên như kẻ ngờ nghệch đáng thương. Tôi đã kể rất nhiều về bản tôi, về những đêm tháng mười lộng lẫy. Câu chuyện của tôi bao giờ cũng cuốn hút cô ấy. Có thể vì thế cô ấy chú ý đến tôi – chú ý đến những câu chuyện là lạ, ngồ ngộ của một gã trai bản như tôi. Nhưng cô ấy không bao giờ biết được, những câu chuyện đó là tài sản duy nhất mà tôi mang về phố. Tôi không có bất cứ câu chuyện gì để kể, ngoài bản làng của tôi.
|
|
Cũng có rất nhiều đêm tôi lang thang trên phố, cố gắng ngước nhìn ánh trăng vàng vọt nơi phố phường này
| Rồi một hôm cô ta đưa cho tôi một cái thiệp mời đến dự sinh nhật. Tôi chưa bao giờ dự một sinh nhật của người thành phố. Tôi hồi hộp, lo lắng và suy nghĩ rất lâu về chuyện này. Tôi không muốn đi vì tôi sợ xuất hiện với vẻ ngờ nghệch, nhưng lại tò mò muốn chứng kiến người thành phố tổ chức sinh nhật như thế nào nên tôi quyết định đi.
Tôi đã đứng ở cổng nhà cô ấy rất lâu - lâu lắm. Tôi không nhớ đã định ấn chuông bao nhiêu lần. Cuối cùng tôi cũng đủ dũng khí bước vào nhà cô ấy. Một cảnh tượng choáng ngợp: rượu vang và âm nhạc. Vâng, họ ăn mặc sang trọng, họ uống rượu vang, họ thắp nến, họ chơi dương cầm, họ nhảy với nhau... Đó là sinh nhật của giới trung lưu thành phố, gia đình bạn tôi làm nghệ thuật, vì thế họ sang trọng và lịch lãm.
Tôi đã đứng ở đó ngờ nghệch và tội nghiệp. Cô bạn tôi đã mời tôi nhảy, nhưng tôi không biết nhảy nên từ chối. Những người bạn của cô ấy nhìn tôi đầy thương hại. Và tôi nghe loáng thoáng ai đó nói rằng: lại cái cậu bạn “tông dật” của cậu à… Thực lòng tôi không biết kể thế nào, nhưng cái từ “tông dật” là cách nói ngược từ dân tộc, có thể họ đùa cho vui, chẳng có ý miệt thị tôi. Nhưng lúc đó tôi đã tự ái - sự phản kháng ngờ nghệch của một kẻ tự ti.
Tôi ra về vì sự tự ti và hờn dỗi như đứa trẻ. Cũng từ đêm đó tôi thường tránh mặt cô ấy. Không hiểu sao tôi lại hành động như vậy, cũng từ đó tôi không bao giờ kể về bản làng của mình cho cô ấy nghe nữa.
Đêm đó tôi đã đạp xe lang thang trong phố, tôi lại nhớ về đêm tháng mười bản tôi, nhớ về những cây rơm ẩn hiện trong sương khói, nhớ về người con gái tôi yêu. Và tôi biết chắc rằng tôi không thể yêu một người con gái thành phố. Đến bây giờ mỗi lần nghĩ đến chuyện này tôi lại chạnh lòng - một nỗi buồn rất mơ hồ xâm chiếm tôi. Đêm đó cũng là một đêm hiếm hoi tôi nhìn thấy ánh trăng ở thành phố: vàng vọt, yếu ớt, ủy mị như những điệu valse mà cô ấy mời tôi nhảy. Tôi không hề xúc động trước ánh trăng yếu ớt đó.
Hình như ở thành phố không có khái niệm đêm khuya, với tôi chỉ có khái niệm buổi tối. Mọi thứ vẫn diễn ra bình thường, vẫn hối hả mưu toan như ban ngày, thậm chí còn vồn vã hơn. Người ta có những phố sôi động về đêm. Họ ăn uống, chơi bời, mua bán… rồi những cô gái ẽo ợt, những gã thanh niên đồng bóng, những công chức trốn vợ đi chơi, những gã đầu gấu ăn đêm… Trông họ thật tội nghiệp trong sự chạy đua với thời gian. Họ chưa bao giờ được hưởng một ánh trăng theo đúng nghĩa. Đêm tối với họ là công việc, là chơi bời. Ánh sáng với họ là cột đèn cao áp vàng vọt kia, tâm hồn họ rất hiếm hoi được một ánh trăng soi rọi. Tôi thấy họ kiệt khô, máy móc... Và khi buổi sáng xuất hiện với những khúc nhạc ráo riết, họ lại ra về rồi ngủ vùi trong mệt mỏi của một đêm không có trăng.
Tôi cũng thế, mỗi khi đi ngủ cũng mệt mỏi với màn hình vi tính, với những trang bản thảo, với những bức vẽ chưa hoàn thành. Tôi ngủ trong sự lo lắng của công việc và bao giờ cũng thức dậy trong hoảng hốt vì sợ muộn giờ. Từ ngày chuyển về thành phố, tôi chưa được hưởng một đêm khuya khoắt tràn ngập ánh trăng, nên tôi thèm khát - thèm khát ánh trăng của cố hương.
Thỉnh thoảng về quê, tôi vẫn thức rất khuya không phải vì công việc, tôi chỉ muốn lắng tai nghe sự im lặng đến tuyệt đỉnh của đất trời. Mỗi lần như thế tôi lại khóc thầm. Sẽ không còn cơ hội một mình lang thang trên cánh đồng đầy sương, với những cây rơm khổng lồ, với mùi thơm ngái của lúa chín, với người sơn nữ yêu dấu ngày nào. Đó chỉ là hình ảnh mê li của hoài niệm, nó luôn ám ảnh kẻ gàn dở như tôi.
Phải, tôi là một kẻ gàn dở, cũng có người nói với tôi: chán thành phố thế, sao ông không về với bản làng của ông đi… sống ở đây làm gì? Quả thực đôi khi tôi cũng không biết mình sống ở đây làm gì và tại sao mình lại sống ở thành phố? Tôi tin sẽ rất nhiều người đang sống ở thành phố mà trong ký ức của họ có một cố hương cũng sẽ nghĩ như tôi. Chỉ có thể lý giải rằng, tôi cũng như tất cả mọi người – đều mang trong mình những tham vọng. Chính những tham vọng đáng ghét kia đã khiến tôi rời bỏ bản làng để về với thành phố ồn ã. Và thành phố này trở nên ồn ã, lộn xộn, mưu toan, chụp giật, lừa lọc… cũng chỉ vì hai từ: THAM VỌNG mà thôi!
|
|
Có thể sau này tôi sẽ kiếm ra nhiều tiền - rất nhiều tiền, nhưng tôi cũng biết những đồng tiền kia không thể mua nổi một ánh trăng mát dịu.
| Tôi còn nhớ, hồi 5 tuổi lần đầu tiên được xem Bộ đội hát (cách gọi của người bản tôi) của đoàn nghệ thuật quân đội lên phục vụ đồng bào. Cả cái bản Pác Thay bé nhỏ của tôi náo nức như ngày hội. Đêm đó lần đầu tiên tôi nhìn thấy đèn điện, thấy loa đài, thấy ánh sáng choáng ngợp của sân khấu… Rồi những diễn viên múa trong trang phục lộng lẫy, họ hát, múa trong ánh sáng lung linh của đèn điện, trong tiếng nhạc thật lạ tai. Tôi đã nghĩ rằng, họ là Tiên chứ không phải là người, nhất định là Tiên mới có khuôn mặt ấy, làn da ấy, trang phục ấy…
Và khi họ ra về, bọn trẻ chúng tôi cứ thế chạy theo xe của họ thật xa. Cũng từ đêm xem văn công đó, một miền đất thật đẹp với ánh điện lung linh đã ăn sâu vào tâm trí tôi. Trong tư duy của một đứa trẻ của núi rừng, họ thật kỳ lạ, thật cuốn hút và họ là thánh thần… Họ đã ám ảnh tôi, cũng có thể từ đó những tham vọng ngờ nghệch bắt đầu nhen nhóm trong vỏ não của tôi.
Lớn lên một chút, tôi được đi học ở trường nội trú. Một lần có đoàn làm phim đến trường tôi lấy tư liệu. Họ chọn tôi để phỏng vấn, trước đó thầy giáo đã soạn cho tôi một bản trả lời viết sẵn. Tôi nhớ như in lời thầy dặn: họ sẽ hỏi ước mơ của em là gì? Rồi thầy chìa tờ giấy cho tôi, trong đó ghi rất rõ nội dung: ước mơ của em là học thật giỏi để đem kiến thức về phục vụ quê hương… Và tôi đã nói như những gì thầy dặn. Đến bây giờ mỗi khi nghĩ lại chuyện này tôi thấy đỏ mặt vì xấu hổ. Thú thực, khi ấy tôi không biết ước mơ là cái gì, tôi cũng không thể biết như thế nào là học để có kiến thức, để phục vụ quê hương. Một đứa trẻ như tôi hồi đó không thể biết nói thế, tất cả là do những lời người lớn nhồi vào miệng.
Còn việc tôi nhận lời đi học ở trường nội trú cũng chỉ vì người ta bảo, đến đó sẽ có quần áo mới, được ăn cơm tập thể, được ngủ giường tầng, được nhìn thấy đèn điện… và đặc biệt không phải đi chăn trâu nữa. Thế là tôi hào hứng đi học với sự tò mò của một đứa trẻ.
Và bây giờ sau rất nhiều năm lăn lộn với thành phố, tôi cũng không thể hiểu ước mơ là gì, tôi chỉ lờ mờ nhận ra tham vọng vị kỷ của chính bản thân mình mà thôi. Cũng có thể vì thế mà tôi đã không quay về bản làng. Và tôi tự hỏi: sống ở thành phố, tôi đã được gì? Tôi có được một công việc khá ổn định, một căn nhà không quá 20m2, một khoản thu nhập luôn ở mức thiếu thốn… Tất cả những thứ đó tôi phải đánh đổi cái ánh trăng huyền diệu nơi cố hương.
Có thể sau này tôi sẽ kiếm ra nhiều tiền - rất nhiều tiền, nhưng tôi cũng biết những đồng tiền kia không thể mua nổi một ánh trăng mát dịu. Ánh trăng đó không thể mua bằng tiền! Phải mất rất nhiều thời gian tôi mới nhận ra sự thật cay đắng đó. Hy vọng ánh trăng ấy sẽ hiếm hoi hiện về trong những giấc mơ của tôi.
Cũng có rất nhiều đêm tôi lang thang trên phố, cố gắng ngước nhìn ánh trăng vàng vọt nơi phố phường này. Nhưng chưa bao giờ tôi thấy nó đẹp, có thể chỉ duy nhất mình tôi thấy trăng ở đây không đẹp. Cũng có thể hệ thần kinh của tôi đã kiệt khô, hay đúng hơn tâm hồn của tôi đã héo mòn, không còn chỗ cho sự thổn thức bẩm sinh của một gã trai bản. Tôi đã là một ông già dù chỉ ngoài ba mươi tuổi. Phải, tôi đã già đi rất nhanh – nhanh hơn chu kỳ bán rã bình thường của một cơ thể sống. Sự thổn thức trong sáng ngày nào mà rừng núi ban tặng cho tôi không còn nữa.
Tôi sống và hành động cơ học như một cỗ máy, vì thế tôi đâu còn biết ngắm trăng!
Hà Đông, tháng 2/2008
A Sáng (Vietimes)
|