|
>> Trinh tiết miền rừng và đêm tân hôn của người Tày >> Bùa yêu hay chỉ là thuốc phiện?” - Tự thuật của một người Tày...
Chuyện thứ nhất - gái điếm giả
 |
|
Chợ tình Thanh Xuân
| Gần đây “chợ tình” Thanh Xuân lại bắt đầu nhộn nhịp trở lại. Không khó khăn gì để nhìn thấy những cô gái làng chơi đang đợi khách trên trục đường Nguyễn Trãi. Họ đứng thành từng tốp, ăn mặc theo kiểu loè loẹt để bắt mắt thiên hạ. Chuyện này cũng rất thường tình - thường đến nỗi chẳng mấy ai để ý. Mà hình như chính quyền quận Thanh Xuân cũng chẳng để ý nốt. Bằng chứng là cái “chợ” rất nhộn nhịp, nếu không muốn nói, đang phát triển một cách ngang nhiên trước bàn dân thiên hạ.
Tôi cũng thế, chiều nào chẳng qua đấy, lúc nào chẳng nhìn thấy, thế nên cũng chẳng để ý lắm. Cho đến một hôm có ông bạn xuýt xoa khoe rằng, đêm qua tớ bắt được một em dân tộc xịn, ngay trên đường Nguyễn Trãi, của hiếm, hay lắm… Rồi ông bạn tôi hào hứng kể về “cuộc tình” với cô ả làng chơi nọ. Cuối cùng ông ta kết luận: “Đúng là bọn rừng rú, vừa dại vừa đần, hay không thể tả…”. Rồi như sực nhớ ra tôi cũng là người dân tộc miền núi nên ông ta chống chế: “… À, ờ… không được… khôn như ông đâu...”. Tôi chỉ im lặng, một cái gì đó đã làm tổn thương tôi! Đúng là ông bạn tôi không cố tình như vậy, nhưng tôi vẫn tổn thương, vẫn chạnh lòng khi người khác kết luận về sự đần độn của những con người như tôi, như cái ả gái điếm kia. Và tôi tự hỏi, tôi khôn cái gì?
Có thể với ông bạn tôi sự vụng dại, hay đần độn của cô gái được gọi là dân tộc kia hiện ra rất thú vị. Nhưng với tôi thì không! Tôi không tin lắm vào những lời anh ta kể. Người miền núi có thể dại, nhưng dứt khoát không đần! Đặc biệt với cái ả đã dám đi làm gái làng chơi ở đất Hà Thành. Tôi rất nghi hoặc về chuyện này nên đã quyết định “thực địa” một chuyến, để xem các ả phù du đó có đúng là sơn nữ?
Đúng 20h30p ngày 15/12/2007, tôi lân la trên trục đường Nguyễn Trãi, quận Thanh Xuân, Hà Nội. Hôm đó trời mưa nhẹ, người qua đường có vẻ hối hả và vắng hơn thường ngày. Đến gần khu vực chợ Phùng Khoang, không khó khăn gì tôi tiếp cận ba ả đang đứng đợi khách. Sự xuất hiện của tôi làm mấy ả có vẻ vui sướng, có lẽ hôm nay mưa nên ế khách. Một ả tiến tới đong đưa: “Đi không anh?”. Mùi nước hoa, mùi thuốc lá, mùi son phấn… cả cái mùi hôi nồng của rác rưởi lều chợ càng làm mấy cô ả kia trở nên bí ẩn đến đáng sợ. Thấy tôi không trả lời, một ả nói tiếp: “… Tàu nhanh đi anh, bọn em xịn lắm, toàn dân tộc từ Yên Bái xuống đây đấy…”. Thì ra là thế, quảng cáo hàng đây, kiểu này chắc đang là mốt thời thượng. Tôi hỏi: “Bọn em dân tộc gì?”. Chẳng mất thời gian cái ả đong đưa ban đầu nói luôn: “Người Tày xịn đấy, thích không?”. Rồi ả cười tít mắt.
Người Tày xịn đấy, câu nói đó như nhát dao sắc lẹm xuyên qua ngực tôi. Người Tày của tôi đi làm gái điếm? Người Tày của tôi đứng trơ vơ trên hè phố để làm cái nghề này? Người Tày của tôi mà mang bộ mặt trơ khấc với son phấn rẻ tiền kia ư? Người Tày của tôi là các cô ư? Tôi đùng đùng nổi giận!
Tôi hỏi một tràng bằng tiếng Tày. Mấy ả ngơ ngác, chẳng hiểu gì. Để thẩm định lại tôi hỏi rất chậm, rất từ từ, thậm chí nhắc đi nhắc lại bằng tiếng Tày. Mấy ả vẫn ngơ ngác không thể hiểu thứ “nội ngữ” tôi đang dùng. Tất cả đã rõ, bọn lừa đảo - cái bọn đem danh sơn nữ để loè bịp thiên hạ. Đã thế lại còn dùng cái danh ấy vào công việc bẩn thỉu này.
Tôi nổi giận thật sự. Tôi muốn tát vào cái mặt loè loẹt son phấn rẻ tiền kia! Tôi muốn hét thật to vào cái miệng độc ác kia! Các ngươi có thể làm tất cả, nhưng việc dùng dân tộc tôi để loè thiên hạ là điều không thể. Tôi lại nhớ tới cái ông bạn hay trốn vợ đi chơi kia. Ông ta đã bị lừa, cũng có thể một ả người miền núi nào đó đã qua đêm với ông. Nhưng ông bạn tôi ơi! Cái kiểu gái đó không bao giờ là sơn nữ được. Cái vẻ vừa đần, vừa dại mà ông kể với tôi rất có thể là thật, nhưng không bao giờ con gái miền núi đần cả. Ngay từ đầu tôi đã biết, ông không hiểu gì về con gái miền núi. Ông đã bị lừa, ai dám chắc ông không mắc bệnh khi qua đêm với dạng gái như thế?! Ai bảo ông thích của lạ!
Hay thật! Thiên hạ bây giờ chán những thứ của thành phố, quay ra tìm kiếm cái gì đó thật lạ. Vì thế những khẩu hiệu theo kiểu: rượu dân tộc, quán dân tộc, các món ăn dân tộc, gà dân tộc, lợn dân tộc… đã thành mốt cho những nhà hàng quảng cáo. Đến bây giờ người ta lại thích gái điếm dân tộc. Từ dân tộc ở đây được hiểu là dân tộc thiểu số, hay nôm na là miền núi gì đó, tóm lại là rất hiếm ở thành phố. Thế là không chỉ mấy cái món nhậu người ta mới khoác vào đó từ: dân tộc. Đến cả gái điếm bây giờ cũng rêu rao là dân tộc. Sự thật - giả này chỉ người thành phố mới nghĩ ra. Còn mấy người dân tộc thiểu số thật như chúng tôi làm sao biết được “giá trị” của mình để mà khai thác? Ôi, người ở phố! Sao thật giả - giả thật lẫn lộn cả thế này?!
Chuyện thứ hai - thịt lợn giả
Một lần, có đại gia trẻ trúng quả đậm, rất muốn khao cánh báo chí như chúng tôi nên mời rất nhiệt tình. Để chứng tỏ sự nhiệt tình, đại gia đó mời chúng tôi đi nhậu lợn dân tộc, hay còn được gọi là lợn Mán. Cái từ Mán cũng tự người ở phố nghĩ ra vì 54 dân tộc Việt Nam chẳng có dân tộc nào có tên là Mán cả. Hay từ Mán này để chỉ chung nhóm dân tộc thiểu số? Chịu, tôi không thể biết. Chỉ biết người ta đồn cái giống lợn ấy ăn rất ngon: thịt săn, ngọt, bổ… thậm chí thành thuốc. Quả là bốc phét lên trời, cái gì mà quý thế?
Đến quán nhậu, người ta bưng ra hai đĩa thịt lợn thâm sì. Ai cũng thi nhau gắp, nhồm nhoàm nhai, nhồm nhoàm nói: ngon quá! Riêng tôi chẳng thấy ngon lành gì. Thịt gì mà dai như đỉa, đã thế lại còn mùi hôi hôi. Mấy ông bạn tôi cứ thế phồng miệng nhai vì tin rằng mình đang ăn thịt lợn Mán. Lạy Đin Phạ! (ông trời), nhìn họ ăn tôi vừa buồn vừa bực. Họ là những người sành ăn, đã ăn bao nhiêu món Tây, Tàu… lại ngây thơ cứ tin mình đang ăn của lạ.
 |
|
Ở thành phố, mọi sự thật giả, giả thật lẫn lộn, khó phân biệt | Cái con lợn Mán mà người ta hay nói đến ở đây thực ra chẳng có gì lạ. Tôi là người biết rất rõ về chúng. Nhưng bây giờ làm gì còn nữa, chúng đã về trời cả rồi, về với những hoài niệm xa xưa của một thời rồi. Nói cho rõ: chúng đã tuyệt chủng!
Ngày bé tôi vẫn thấy người Dao đỏ nuôi loại lợn này. Chúng là giống lợn ỉ ở dưới xuôi đem lên. Thời đó người Tày bản tôi cũng nuôi giống lợn ỉ này, nhưng được nhốt trong chuồng. Tôi nhớ rõ phải mất hơn một năm, nhà tôi mới xuất một lứa lợn. Con to nhất cũng chỉ chừng 30kg, để tránh nhà nước thu mua hết, pa tôi thường lén thịt một con, cắt ra từng miếng, rán lên bỏ vào chum ăn dần. Còn người Dao đỏ, họ ở trên núi cao, ngay đằng sau bản tôi, họ không nhốt lợn vào chuồng mà cứ thả rông như trâu bò. Đến giờ ăn họ cứ gõ mạnh vào cái máng, thế là những con lợn đi ăn rong trên núi chạy về ầm ầm. Trông chúng chẳng khác nào lợn rừng: lông dài, màu đen, mõm nhọn, chân dài, lưng võng… Chúng chạy nhanh hơn cả ngựa. Cứ chiều chiều bọn trẻ chúng tôi lại nghe văng vẳng tiếng gõ máng lợn của người Dao đỏ, cũng là lúc chúng tôi rong trâu về chuồng. Tôi nhớ như in cái giống lợn đó. Riêng giống lợn này việc mổ thịt chúng cũng chẳng khác gì chế biến thịt lợn rừng. Nghĩa là sau khi chọc tiết, không thể dùng nước sôi để cạo lông được, mà phải thui qua lửa, cạo sạch rồi mới nấu nướng.
Sau này, khi tan hợp tác, người ta đưa giống lợn lai vào, chúng lớn nhanh, cho hiệu quả kinh tế. Người bản tôi và cả người Dao Đỏ trên núi chẳng ai còn nuôi giống lợn ấy nữa. Chúng vừa bé, vừa khó nuôi nên người ta bỏ hẳn. Đến bây giờ, đố ai còn tìm thấy giống lợn ấy ở miền núi. Thế mà người ở phố lại rêu rao có lợn Mán. Nếu có giống lợn ỉ ấy thật, việc nuôi chúng trong chuồng cũng chẳng phải là lợn Mán. Cái giống lợn này phải chạy, phải thả rông mới thành. Bằng ấy đã đủ chứng minh cái món chúng tôi đang nhậu trên bàn là của rởm. Một lần nữa người ta lại khoác vào đĩa thịt kia cái từ dân tộc. Tội nghiệp người ở phố!
Lần này, tôi cũng tò mò muốn biết cái nhà hàng kia chế thịt lợn Mán như thế nào. Tôi lặng lẽ đi xuống bếp. Lại một lần nữa thật giả lẫn lộn. Bên ngoài, bàn ăn, ghế ngồi được người ở phố chăm chút sạch sẽ, hào nhoáng bao nhiêu thì ở dưới bếp - nơi chế biến các món ăn lại lộn xộn, bẩn thỉu bấy nhiêu. Những gã đầu bếp mồ hôi nhễ nhại, cởi trần trùng trục, xào xào nấu nấu trông phát sợ. Nói không ngoa, có gã vừa ngoáy mũi, vừa thát thịt. Tôi không dám chắc những thứ bám trên tay anh ta không dây vào những miếng thịt trên thớt.
Tôi để ý thấy họ đựng thịt lợn “Mán” trong một cái tủ lạnh rất to. Mỗi lần mở ra hơi nước bốc lên nghi ngút. Từng tảng thịt lợn được vác lên, ném bịch xuống nền nhà rồi họ pha ra. Những miếng to như thế phải được cắt ra từ những con lợn có trọng lượng trên 100 kg là ít. Trong khi đó con lợn Mán chính hiệu lớn nhất cũng chỉ chừng 30kg, không thể có tảng thịt to như thế được. Vậy những tảng thịt kia là thịt lợn gì? Phải khéo léo lắm tôi mới tới gần để nhìn rõ chúng.
Cha mẹ ơi! Đó là thịt lợn sề, trăm phần trăm thịt lợn sề. Sở dĩ tôi khẳng định như vậy vì trên một tảng thịt còn nguyên hàng ti của chúng. Những cái ti vừa to, vùa dài ấy là kết quả của việc nuôi con. Lợn sề rồi! Họ cho chúng ta ăn lợn sề. Thảo nào, da chúng dày, thịt thâm, rất dai, lại có mùi hôi hôi…
Cổ họng tôi nóng ran, mọi thứ trong thực quản chỉ muốn trào ra, tôi chuồn thẳng. Xin đừng bao giờ mời tôi ăn cái thứ đó nữa. Ai lại đi ăn thịt lợn sề bao giờ. Chỉ có người ở phố mới nghĩ ra và bảo đó là lợn Mán. Sợ không thể tả!
Mất gần nửa tiếng sau, những thứ trong thực quản của tôi mới thải hết. Tôi bình tĩnh, ngẫm lại vừa buồn cười, vừa bực. Người ở phố thật tài, họ nghĩ ra đủ thứ để kiếm tiền, nhưng cũng chính người ở phố dễ bị lừa. Người ta bảo: khôn quá hoá dại là thế. Cái gì cũng thật giả lẫn lộn. Những miếng thịt lợn sề kia sẵn sàng biến thành thịt lợn Mán, rồi cả những ả phù du đứng đường cũng trở thành sơn nữ Tày. Thế mà lắm kẻ tin – tin đến sái cổ, lại còn đem ra khoe, như thể mình là người may mắn vì được thưởng thức chúng.
Tất cả sự loè bịp đó cũng chính từ nhu cầu của người ở phố. Hình như người ta không thích sự thật, hoặc chẳng thể chịu đựng được sự thật vì chúng phũ phàng quá. Nói dối, nói không đúng lòng mình tiện hơn khi sống ở phố phường.
Hồi mới về thành phố, tôi vẫn đầy chất ngây ngô của núi rừng, tôi hay nói thật, nên nhiều khi bị phiền toái. Một lần đi ăn sáng cùng thủ trưởng, ăn xong tôi thấy trên răng thủ trưởng dính một cọng hành. Việc này rất bình thường, tôi nghĩ thế, mới lại tí nữa họp, thủ trưởng phát biểu nếu để răng dính hành mà nói thì không tiện. Nghĩ thế nào nói thế nấy. Tôi bảo, răng anh dính hành này. Thủ trưởng giật mình, súc miệng, chẳng nói gì.
Điến chiều, một bạn đồng nghiệp của tôi nhăn nhó nói: “…Cậu làm gì mà thô thế? Thiếu gì cách nhắc sếp mà nói thẳng trước mặt mọi người, anh ấy xấu hổ đỏ cả mặt. Cậu thật là thô thiển. Đúng là miền núi… ” . Tôi ngẩn tò te, chẳng biết mình sai chỗ nào. Răng dính hành thì bảo răng dính hành chứ nói gì bây giờ. Ừ, tôi có thấy thủ trưởng ngượng, nhưng có gì đáng ngượng cơ chứ? Mãi về sau tôi mới biết, cách nói thật ấy không phù hợp với người ở phố. Người ta không thích nói thật vì nó quá phũ phàng.
Lại một lần đi tiếp khách quan trọng, trong bữa ăn tôi không biết cách dùng dĩa vì ăn đồ Tây. Tôi quay ra hỏi: “Chị ơi, cái này ăn thế nào?”. Mọi người nhìn tôi cười cười, tôi cũng cười. Tôi không biết, nên tôi hỏi, thế thôi. Sau bữa ăn, đồng nghiệp tôi lại nhăn nhó: “Cậu chán bỏ xừ, không biết ăn thì nhìn người khác mà ăn, sao lại hỏi to thế? Khách người ta khinh cho. Đi tiếp khách phải lịch sự chứ…”. Tôi vã mồ hôi và không biết mình có mất lịch sự không khi hỏi như thế trong bữa tiệc quan trọng. Tôi không biết ăn nên tôi hỏi, thế thôi! Cũng từ đó tôi từ chối tất cả những cuộc tiếp khách vì mình thô thiển quá.
Và giờ đây, sau nhiều năm sống ở phố, tôi khôn ra nhiều. Ban đầu tôi rất thích thú, nhưng bây giờ tôi lại sợ hãi điều đó. Bởi đôi khi tôi không biết mình là ai. Những lời nói, hành động của tôi cũng thật giả lẫn lộn. Liệu tôi đúng hay sai? Rồi nhiều đêm tôi tự hỏi: Tôi là ai?
(Còn nữa)
A Sáng (Vietimes)
|