|
Đọc Ma thuật ngón, cảm nhận đầu tiên là câu chữ hiện diện một cách điềm đạm mà riết róng cái ý hướng làm mới, ngôn từ mang một sắc thái mới, khí thơ mang một tiết nhịp mới, hình ảnh, âm thanh mang một ám ảnh mới. Từng câu, từng bài ở Ma thuật ngón như chuyển động theo một giục gọi ngấm ngầm rằng đã đến lúc phải thay đổi cách viết, cách cảm, cách nghĩ về thơ một cách quyết liệt..
thèm
im lặng
im lặng tuyệt đối
có thể
cắt ý nghĩ ra từng phần
bày lên những chiếc ngón
ngón vươn ra ý nghĩ chưa ai từng nghĩ
thèm
im lặng
im lặng tuyệt đối
để
cắt hồi âm
ra nhiều tiếng nói khác
chưa ai từng nói suốt triệu năm
cắt im lặng ra như phần bánh
phục sinh âm thanh
(thèm)
chực loang đôi mắt ngươi bóng nước
đôi tay ngươi ngọn triều chiếc sóng lưỡi liếm dài
cặp đùi thon nõn ban mai
nước đè lên nước nước luồn
vào nước nước tràn vào nước
sóng chồm ngọn linh sơn
(hợp hoan)
 |
|
Nhà thơ Trần Tuấn
|
Nếu hỏi rằng Ma thuật ngón có gì đặc sắc? Thì câu trả lời rằng: có thể nói ngay điều này, Ma thuật ngón là một tập thơ mang đậm chất Thiền, nhiều bài đạt đến cái thần của những bài thơ Thiền trong truyền thống thơ phương Đông. Đó là một điều lạ, vì Trần Tuấn không là một người-đã-già, đã đủ-ngộ đạt ra những điều đó. Khác với những nhà thơ trẻ hôm nay đang loay hoay thử nghiệm với những cách tân phương Tây, thì Trần Tuấn lại nghiêng về phương Đông, và ở Ma thuật ngón, có thể thấy sự hiển lộ cốt cách-thơ tài hoa hiếm thấy đó.
Ma thuật ngón tràn ngập những ý nghĩ mê ngợp làm thành một trải nghiệm xuyên suốt tập thơ như để hóa giải bao nhiêu câu thúc của đời sống thực để cho thi ca triển hạn. Từng ý nghĩ nghiệm sinh ấy có khi như một kinh nghiệm tôn giáo:
ngón tay ma thuật đốm lửa
ngón tay đốm lửa kiếp trước
ngón tay kiếp trước tàn tro
ngón tay tàn tro ma thuật
ngón tay ma thuật im lặng
kiếp trước của lửa hát về kiếp trước của tàn tro
lửa của tàn tro hát về tàn tro của lửa
phải mất đi bao nhiêu ngón
phải thêm bao nhiêu ngón
mới đủ một bàn tay
(ma thuật ngón)
Ma thuật ngón cũng gợi tưởng đến Hoa Nghiêm kinh của nhà Phật với “trùng trùng duyên khởi” hay “đỉnh rỗng” gợi tưởng đến Khải huyền của Kitô giáo:
người đang bước ra bên ngoài ánh sáng
bên ngoài thân thể người
bên ngoài ý nghĩ người
người đang bước ra ngoài đôi chân người
a a a a a a a ...
…
mọi ánh sáng đã đựng trong rỗng
mọi âm thanh đã đựng trong rỗng
mọi sắc màu đã đựng trong rỗng
mọi ngôn từ đã đựng trong rỗng
mọi hơi thở đã đựng trong rỗng
và rơi
trong thân thể rỗng
Nhưng , dấn thân vào c từng ngôi nhà ngạt thở từng ngón tay ngạt thở từng cái nhìn ngạt thở từng chiếc lưỡi ngạt thở trì bám bấu víu như tầm gửi cắm cái rễ ngạt thở quấn cái rễ ngạt thở trên đỉnh rỗng
thân thể tôi
…
đỉnh rỗng tôi người thổi lên ngọn lửa vì rỗng mới thấy sáng vì rỗng mới thấy nóng vì rỗng mới thấy THẤY ngọn lửa reo vi vu như những hạt mầm đang gieo xuống mùa rỗng
(Đỉnh rỗng)
Cái thiếu lớn nhất của văn chương Việt Nam đương đại nói chung và của thơ nói riêng là thiếu tư tưởng. Nguyễn Huy Thiệp đã từng thốt lên tuyệt vọng: “Khoảng trống ai lấp được trong tư tưởng nhà văn”. Đã có nhiều thử nghiệm. Và cũng đã có không ít những thất bại .
Tất nhiên Trần Tuấn không phải là nhà thơ tư tưởng, nhưng thơ Trần Tuấn trong Ma thuật ngón là thơ tư tưởng. Giá trị thẩm mỹ của nó là ở tư tưởng và ở cách thể hiện tư tưởng .Vì thế người đọc chỉ có thể tiếp cận tư tưởng trong thơ Trần Tuấn bằng lăng kính của mỹ học Thiền , bằng cái tâm Bát Nhã và cách đọc thơ vô ngôn. Hơn nữa Trần Tuấn có kiểu tư duy thơ rất riêng khiến cho thơ anh không dễ đọc. Nhưng khám phá được thế giới nghệ thuật ấy người đọc sẽ nghe THẤY ngọn lửa reo vi vu trong tâm hồn mình.
Ma thuật ngón có một sự khác biệt với thơ Thiền truyền thống ở chỗ tác giả của thơ Thiền truyền thống là các thiền sư, còn Trần Tuấn là nhà thơ hiện đại. Vì thế Ma thuật ngón là thơ của đời ánh lên sắc Thiền, thơ của một con người còn đang “qua dốc sương mù”.
Như một kẻ trên đường, thơ Trần Tuấn khao khát một cuộc tạo sinh mới, bằng cách đi tìm những tương hợp mới, những tương hợp giữa thực với siêu thực, hữu thức và vô thức nhằm mở ra một dang dở kêu đòi chắp nối, một cũ càng đòi được thanh tân. Phải vậy chăng mà ở đó có “một nhói trắng” của hoa vơi:
nụ hoa khẽ trắng
khi bóng đêm bắt đầu quánh đặc
ý nghĩ chậm dần
rồi ngưng lại đâu đó
người vẫn đi
với đôi chân đã dừng lại bao giờ
nụ hoa vẫn trôi
trên cái cuống đã cắm ngập vào bóng tối
(nhói trắng)
Của xác của những giấc mơ:
chết là gì với giấc mơ
khi đã phóng sinh
chỉ có xác những cơn mơ lưu cữu trong những cái đầu đang tưởng mình còn sống
lanh canh ly muỗng
theo sau là tiếng chổi của người phu đường
cơn mơ nào sống sót của tôi
khi người đẩy mãi chiếc xe cà phê đêm vào cái đầu mất ngủ
(giấc mơ sống sót)
Của những ý nghĩ mọc lên
bên ngoài
không giày dép áo quần
chỉ ngập tràn ý nghĩ
mọc ra ngoài trời
không bám víu
tôi như tháp lở
ý nghĩ mọc lên
rễ râu tóc nâu xám xanh trầm
ý nghĩ thở đi lại trụi trần
…
bên ngoài
ý nghĩ neo rốn
thả
ngoài
ở bên
bào thai kiệt nước
ý nghĩ tinh cầu
siêu âm
câm
tìm một bờ Người khác
(Ý nghĩ 1)
ý nghĩ
thở nhẹ
đập cánh bay vươn
khỏi cái họng đặc đông
mắt nheo thòng lọng
ý nghĩ
xổ tung chiếc gối
cái đầu bay vươn
rồi ngươi là người khác
(Ý nghĩ 2)
“Những ý nghĩ thở nhẹ”, “những ý nghĩ đi lại trụi trần”, “những cơn buồn ngủ đã chết”, “sự phục sinh những âm thanh” đã mất, “lau một tiếng nói” đã từng... cứ trở đi trở lại trong từng câu thơ, trong từng sự trăn trở. Đọc Trần Tuấn, có lẽ người đọc ít nhiều chia sẻ nỗi khổ của người viết khi thường trực phải kêu lên “đơn giản tôi là rối rắm, phức tạp, là hỗn độn mờ nhòe...”. Khổ vì phải mang vác bao nhiêu nghĩa vụ bảo tồn với lớp người trước, khổ vì phải đắn đo trước hấp lực cần xác lập một trật tự mới - trật tự phi trật tự của lớp trẻ đương thời.
Ma thuật ngón cũng gợi nhớ đến tranh siêu thực của S. Dali với bức Sự kiên trì của ký ức. Nó là một sự cộng sinh của khuynh hướng thơ hiện đại và những yếu tố hậu hiện đại manh nha. Phóng sinh từng phần thân thế là những hình ảnh siêu thực, Về mang tính chất thơ hiện đại “không ý tưởng chỉ vào sự thật” (W. C. Williams) có khả năng truyền đạt trực tiếp như cách sử dụng đàm thoại hàng ngày:
giầy thường cười nhạo bàn chân:
-mày trong ấy thì nhìn thấy gì!
(Ngụ ngôn đường và chân)
Đỉnh rỗng là sự xâm thực của văn xuôi vào thơ khiến cấu trúc thơ nới rộng. Sự nới rộng cấu trúc thơ không phải là hình dáng câu thơ trở nên dài hơn mà chính là ngữ điệu câu thơ tiết nhịp mới:
tôi đóng nước vẫn chảy tôi đóng gió vẫn
vào tôi đóng nhạc vẫn reo tôi đóng mùa
vẫn đến tôi đóng đầy càng rỗng tôi tắt lửa
vẫn cháy tôi tắt bóng vẫn đổ tôi tắt ngày
vẫn sang
(Đỉnh rỗng)
Ma thuật ngón có sự giễu nhại, sự tái chế ngôn ngữ vỉa hè nhưng hơn hết là sự hoán đổi các sự vật, hiện tượng, âm thanh, hình ảnh như những tác phẩm trừu tượng - biểu hiện của giới mỹ thuật:
“Trong đầm gì đẹp bằng sen Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao Hôm nay trời nhẹ lên cao Đầu trâu mặt ngựa ào ào như sôi Giá đừng có giậu mồng tơi Thì đâu đến nỗi đánh rơi… (mất mấy chữ) Một giáo sư nhận định đó là mạc can phóng dao nhưng vào giai đoạn văn học nào thì chưa xác định”.
(Phóng sinh từng phần thân thể)
Hình hài, thân xác, cuộc đời này nặng nề biết bao, nó trói buộc con người mãi trong cõi vô minh. Hỏi cũng là trả lời . Tiếng chuông thức tỉnh ấy là tiếng chuông vọng trong tâm , mà dũng lực của nó có sức khai mở Tâm Bát Nhã.
Với Tâm Bát Nhã con người sẽ nhận ra mình đang đánh bắt đời mình.
Trần Tuấn là người thơ tài hoa, người thơ cuả tình người, tình đời đằm thắm, nhẹ nhàng, tinh tế, mênh mang. Tuấn giao cảm xâu xa với người thơ xưa, người thơ nay. Tuấn đi nhiều, nơi nào cũng có những câu thơ giăng mắc tình son, gặp ai cũng chia sẻ cái tình nhân gian đau quặn.
Đọc Ma thuật ngón cũng thấy được những bước “về” quy hồi bản thể, kiểu “quay đầu là bờ” (đáo bỉ ngạn) với những “dọc mù sương”, “bầu trời ngậm nổ”... với những tâm hồn trẻ thơ tìm mọi cách liên thông với tha nhân để một lần nữa khỏi bơ vơ trên những nẻo đường hậu chiến... Ma thuật ngón cũng nói về sự rỗng, “vì rỗng mới thấy THẤY”, triết lý của cái nhạt, sự rỗng không không để lấp đầy mà để cái đẹp vụt hiện, cái đẹp của sự bất định, bất toàn. Những bước chân Tuấn đi qua làng gốm một sớm kia, nhìn thấy những điều KHÓ THẤY mà chỉ những con người luôn trĩu nặng ưu tư như Tuấn mới THẤY:
cái mặt tôi
nung trong bảy mươi hai giờ ba mươi lăm phút
nhặt ra
một Phù Lãng
Phù & Lãng
cái miệng chảy lên đôi mắt
đôi mắt thắt thành lỗ tai
lỗ tai gài sang rẻo trán
rẻo trán dán xuống hai môi
đôi mắt há ra kinh ngạc
lỗ tai thốt ánh nhìn câm
rẻo trán dỏng nghe cảnh giác
hai môi toan tính ngấm ngầm
(Phù Lãng1)
trôi trong cái đầu của tôi
dúm Phù Lãng
vừa chối từ một chuyến nâu
(Phù Lãng 2)
nghiêng sông rạch bút
Vỹ Dạ Đạt Ma
phùn mưa ứa khóe
vách lụt bóng lòa
Vỹ Dạ Đạt Ma
câu thơ ngồi lặng
cau hoá bồ đề
kìa kìa cỏ trắng
khâu vào thịt da
(Vỹ Dạ Đạt Ma)
Là bước chân qua làng Cam Tuyền còn sót lại những mảnh bom đạn chiến tranh
Tôi gối lên quả bom
chậm nổ
buổi sáng ở làng Cam Tuyền
pha loãng cái đầu tôi vào đất
đỉnh Cu Lơ ngậm gió
ngậm buổi sáng Cam Tuyền
ngậm tôi +
quả bom ngậm nổ
buổi sáng ở Cam Tuyền
những chiếc máy rà rủ nhau đón bình minh từ phía Tây
những chiếc ngón chui ra từ quả bom hành quân về phía Tây
những bàn chân bước ra từ quả bom hành quân về phía Tây
không hàng ngũ và thật quái dị
chúng đi như bầy sâu đo
máu khô
oằn lá
buổi sáng ở làng Cam Tuyền
buổi sáng trên đỉnh Cu Lơ
cái đầu tôi ú ớ cơn mơ
xương trắng hoá cành
lá xanh ngậm nổ
máu đỏ treo sương
(Buổi sáng ở làng Cam Tuyền)
thả một ly xuống chân thành quách
bạn đã đứng dậy đi rồi
sao tôi không tin thời gian mà chỉ tin cỏ cú
sao tôi không tin thời gian mà chỉ tin cỏ cú
(Cỏ Cú)
nào
về thôi
ba mươi mấy năm rồi còn gì
mới biết anh nghỉ đây
Ba Tơ lơ mơ
đồi đồi úp bóng
về thôi anh
cùng em trên chuyến xe đò cuối ngày
rời núi lạ
(về)
“Bổn phận của mi là lên đường đi đến hố thẳm , một cách im lặng , không hy vọng , một cách rộng lượng “(N. Kazantzaki). Con người phải chịu lấy tất cả những phũ phàng , mất còn ở đời , như chịu đựng cơn khát nắng hạn ,chịu đựng những kinh hòang rùng rùng địa chấn ,chịu đựng sự tàn phá của lũ tràn đê vỡ, giông bão càn quét trụi không, chịu đựng giá rét mùa đông vắng bóng sự sống, chịu đựng những nỗi đau bất hạnh và sự cô độc như vì sao lẻ bóng. Đọc Ma thuật ngón là sự làm mới tự bên trong - tạm gọi là nội dung thơ - dẫu Trần Tuấn đã cố đặt định cách thức làm mới ở một số dấu hiệu “tân hình thức” như in đậm, in rời, đóng khung các con chữ... Ma thuật ngón tự thân cũng hàm chứa nhiều hạn chế như có lúc, có nhiều lúc tác giả làm người đọc mệt mỏi khi sa đà vào “triết luận” - tạm liên tưởng đến chữ nhà Phật gọi là “cơ tâm”, rằng có lòng thành nhưng hơi “trình diễn”. Thơ Trần Tuấn không vui, đã đành, nhưng một dư vang buồn cho cả tập thì quả “nhọc lòng”. Thơ cũng cần phải hân hoan, phải gọi mời mọi người vui sống chứ?
Còn nhiều điều hạn chế nữa, tất nhiên. Điều khó nói nhất là đôi khi những hạn chế ấy cũng dự phòng vào một mưu toan nào đấy của “kẻ viết”, biết đâu?! Cái còn tồn tại trong chính cái mất , vượt qua mất - còn là Chân Như .
Minh Minh
|