TRANG CHỦ BÀI ĐỌC NHIỀU NHẤT BẠN ĐỌC VÀ TÒA SOẠN ĐẶT VIETIMES LÀM TRANG CHỦ
Người quan sát Đối thoại Việt Tiếng gọi số phận Chuyên đề Tính cách Việt Nhiệt kế văn hoá Câu lạc bộ tỷ phú Khoa học giới tính Ngàn ô cửa thế giới
Tìm kiếm :
  

Giải Nobel văn học cho Việt Nam, bao giờ?
Thứ tư, 28/5/2008, 07:00 GMT+7

Nhiều tờ báo đã đặt câu hỏi này cho các nhà văn, các nhà nghiên cứu văn học và cả bạn đọc trong nhiều năm qua. Nhưng chưa ai có thể trả lời một cách cụ thể được. Tôi cũng nằm trong số những người không thể trả lời cụ thể được rằng đến năm nào thì nhà văn Việt Nam sẽ nhận được giải Nobel văn học. Tôi không phải là một nhà tiên tri. Nhưng tôi cũng sẽ trả lời. Trước khi trả lời tôi muốn lướt nhanh qua danh sách “ứng cử viên” là các nhà văn, nhà thơ Việt Nam.


 


Cách đây lâu lắm rồi, khi nhà thơ Tế Hanh còn khỏe. Một lần gặp ông, tôi hỏi: Nếu đề cử một nhà văn Việt Nam cho Giải Nobel thì ông chọn ai? Ông ghé tai tôi nói nhỏ: Không có ai xứng đáng được đề cử. Nhưng ông nói thêm: Nếu Nam Cao còn sống và tiếp tục sáng tác thì đó là người có hy vọng nhất. Thế còn Nguyễn Tuân? Không được. Nguyễn Tuân là nhà văn có vẻ “tài tử”, tinh quái và rất điêu luyện trong chữ nghĩa. Đọc văn của Nguyễn Tuân thích thú như xem Bonsai vậy nhưng không phải những cánh rừng đại ngàn. Vậy Trần Dần? Lê Đạt? Đó là những nhà thơ thực sự dấn thân vào con đường sáng tạo. Nhưng đối với các tác giả thế giới cùng thời với họ thì họ lại phải thường xuyên ngồi ở vị trí bạn đọc. Bây giờ, nếu chúng ta được Viện Hàn Lâm Thụy Điển gợi ý đề cử một nhà văn của mình thì chúng ta không biết đề cử ai.

TIN LIÊN QUAN
Từ Trần Đăng Khoa đến Đặng Chân Nhân: Chuyện thần đồng thơ...
Văn học chiến tranh: Cả bạn đọc lẫn nhà văn đều... kiệt sức?
Văn học Việt sang Mỹ: Đừng nghe các nhà văn tự... nói
Tế Hanh và người nông dân yêu thơ
Ngày Thơ: Chẳng biết nói gì, thôi, tả lại nhé
Làng thơ và những người nông dân thi sỹ
Thơ cho ngày Valentine
Nhà văn Bảo Ninh: Đừng khiến văn hóa trở nên đơn điệu (Phần II)
Nhà văn Bảo Ninh: Đừng khiến văn hóa trở nên đơn điệu
Về một ôsin người Việt ở Đài Loan làm thơ
Văn học Việt Nam 2007: Cãi cọ, kêu ca, ối chà... chán!
Một đoạn "phim" ngắn về nhà văn Bảo Ninh
Nguyễn Huy Thiệp và cuộc sang sông bất thành
Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp nói gì ở Italy?
Nguyễn Huy Thiệp: Chỉ là "bi hề" kịch thôi sao?
Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp "trong mắt" một nhà báo... 8X (Phần II)
Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp "trong mắt" một nhà báo... 8X (Phần I)
Bài cuối: Nguyễn Huy Thiệp trong một lớp kịch tưởng tượng!
Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp: Nghệ thuật phải bán được chứ!
Tiểu thuyết – Gót chân Asin của Nguyễn Huy Thiệp
Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp "trong mắt" một nhà báo... 8X (Phần III)
Nhiều năm trước đây, không ít người được biết có một vài tổ chức người Việt ở nước ngoài đã đề cử ông Nguyễn Chí Thiện cho ứng cử viên Giải Nobel văn học cho những sáng tác thơ của ông. Khi nghe tin này, tôi thực sự buồn. Tôi không hiểu họ đã đề cử ông Thiện vì lý do gì. Thơ ông Thiện tôi đã đọc được một số bài in rải rác đâu đó trên mạng và tạp chí tiếng Việt ở nước ngoài. Và tôi thấy thơ của ông cũng như thơ của hàng trăm người làm thơ Việt Nam khác, không có gì đáng nói.

Việc đề cử này nếu đúng là có thật thì chắc sẽ làm các thành viên Viện Hàn Lâm sửng sốt. Họ sửng sốt, nhìn nhau ngơ ngác và tự hỏi: Những người này đề cử ông Nguyễn Chí Thiện để làm gì nhỉ? Đây là đại diện cho nền thơ của người Việt Nam à? Nếu thông qua thơ ông Thiện để cho người nước ngoài hình dung nền thơ hiện đại Việt Nam thì đó là một thất bại lớn cho thơ Việt Nam. Người Việt chúng ta nhiều lúc thật hài hước và ngây thơ.

Nhà thơ Việt Nam nào sẽ là ứng cử viên cho giải Nobel văn học? Lớp nhà thơ tiền chiến chăng? Không. Hầu hết họ đã về cõi thiên thu. Nhưng dù họ có còn sống thì chúng ta cũng không chọn lựa được ai mặc dù họ đã để lại một dấu ấn trong đời sống thơ ca Việt. Vậy các nhà thơ của phong trào thơ mới? Cũng không có ai cả. Bởi thơ mới, theo tôi, lúc đó giống như một chàng trai mới lớn trong nền thi ca hiện đại thế giới. Nhưng chàng trai ấy chưa phát triển đầy đủ thì đã già nua.

Vậy thì ai? Có người đã từng nghĩ đến Chế Lan Viên. Sự khởi đầu của Chế Lan Viên thật ấn tượng cũng như Huy Cận hay một vài người khác cùng thế hệ. Nhưng trên con đường gian nan và nghiệt ngã của sáng tạo thơ ca, Chế Lan Viên đã có lúc phải rẽ sang một lối khác. Một lối đi an toàn với những câu thơ an toàn. Có lẽ bởi thế mà sau này di cảo của ông như một sự quay trở lại với con đường mà có lúc ông đã khe khẽ đi vòng. Nhưng sự quay trở lại vội vã này chỉ là một sự “nuối tiếc” chứ không con là sự bừng nở của thơ ca ông.

Lại có người tiếc cho sự ra đi quá sớm của Hàn Mặc Tử. Ông là một thi sỹ của nhiều câu thơ tài hoa và có lúc mê sảng. Nhưng ông là nhà thơ đắm chìm trong cảm xúc. Chính thế mà ông thường lãng quên cái thế giới của sự khám phá và những tư tưởng. Thế còn Xuân Diệu, ông quên Xuân Diệu ư? Xin thưa tôi không quên. Xuân Diệu là nhà thơ tình tên tuổi ở Việt Nam. Theo tôi biết, người ta đã trao Giải Nobel cho một nhà thơ sáng tác rất nhiều thơ tình. Đó là Pablo Neruda.

Tôi đã đọc thơ tình của ông trong một cảm xúc lớn lao và cô độc. Những bài thơ tình của ông vang lên và xòe rộng đôi cánh của Cái đẹp và Tự do trong tâm hồn người đọc. Những bài thơ tình của ông dù viết cho một người đàn bà đâu đó trong bóng tối của cuộc đời này thì vẫn mang đến cho người đọc nước mắt, nụ cười và một giấc mơ lớn lao. Thơ tình của ông dù viết cho một người đàn bà cụ thể thì nó vẫn mang theo số phận và những bi kịch của cả nhân loại trong thời đại ông sống và cho cả sau này. Tôi cũng đọc rất nhiều thơ tình của Xuân Diệu và tôi đã chép một hai bài thơ của ông để gửi cho một cô gái tôi yêu. Việc tôi đọc thơ tình của hai nhà thơ này như thế nào đã bày tỏ quan điểm của tôi về Xuân Diệu.

Đến thời đại của các nhà văn, nhà thơ trong cuộc chiến tranh chống Mỹ thì chúng ta không phải dừng lại lâu hay băn khoăn gì. Họ là những nhà văn, nhà thơ “đuối hơn” nhiều so với các tác giả ở các thế hệ trước đó. Và chủ nghĩa đề tài đã cướp đi phần lớn thời gian cuộc đời cầm bút của các nhà văn nhà thơ thời đại này. Có lẽ thế hệ nhà thơ đó sinh ra để thực hiện một nghĩa vụ công dân lớn lao là tham gia cuộc kháng chiến. Và họ đã thực hiện xong sứ mệnh của một người lính.

Thế thì ứng cử viên cho Giải Nobel văn học là các nhà văn Việt Nam cầm bút sau năm 1975 chăng? Bảo Ninh chăng? Nguyễn Huy Thiệp chăng? Đó là hai tác giả văn xuôi từng làm xôn xao văn đàn. Đã có người hy vọng vào sự khởi đầu của hai nhà văn này. Nhưng cả hai nhà văn đó cho đến lúc này đã hết hy vọng làm được điều gì đó lớn hơn những gì họ đã làm. Một người ra mắt một cuốn tiểu thuyết xong là “rong chơi” như chẳng định viết gì nữa. Người khác thì viết những truyện ngắn rất sắc sảo nhưng khi bắt tay vào tiểu thuyết thì ngay lập tức ông thất bại. Truyện ngắn của ông khi ra mắt trong cái thời ấy đã làm choáng váng nhiều bạn đọc Việt Nam. Nhưng những truyện ngắn đó lại đi một cách khá nặng nhọc để đến với bạn đọc thế giới. Và điều quan trọng hơn cả là cho dù Nguyễn Huy Thiệp đã thành công ở một mức độ nào đó trong ý thức phản tỉnh xã hội nhưng ông không lập được hệ thống mỹ học và tư tưởng trong toàn bộ tác phẩm của ông. Giờ ông đã bắt đầu thấy mệt mỏi và muốn nghỉ ngơi. Ở tuổi ông, sự thăng hoa chỉ là 1/10.000 tia hy vọng.

Còn các nhà thơ xuất hiện sau năm 1975 thì hầu hết đều kéo theo một cái đuôi của thơ chống Mỹ cho dù cái đuôi đó ngắn hay dài. Tuy nhiên cũng có một hai nhà thơ cách tân thực sự nhưng cũng chỉ là cách tân với nền thơ Việt Nam, chứ còn với thế giới chẳng có gì mới mẻ. Và đương nhiên, giải Nobel đâu phải dành cho những nhà văn nhà thơ cách tân hình thức. Một lần tôi đã nói với nhà thơ Hoàng Nhuận Cầm là thơ ca hiện đại Việt Nam đặt bên cạnh thơ ca thế giới chỉ là cậu bé trước một người lớn. Hoàng Nhuận Cầm đã phản đối tôi dữ dội. Tôi nói nhỏ với anh như đang thì thầm tâm sự rằng: sau khi chúng ta qua đời sẽ chẳng còn mấy ai đọc những gì chúng ta viết nữa. Mà chẳng phải đợi đến khi chúng ta qua đời mà ngay chính lúc này, thơ của chúng ta quyến rũ được quá ít bạn đọc.


Ai? Và bao giờ?

Nhưng cuối cùng sẽ có những nhà thơ hậu sinh sẽ làm tiếng Việt trở lên rạng danh. Và lúc đó, cái còn lại của chúng ta mà bạn đọc trong tương lai đón nhận có lẽ chỉ là những khát vọng chân thành nếu trong tác phẩm chúng ta có được. Nhà thơ Đỗ Minh Tuấn, một người từng ôm mộng giành giải Nobel đã thừa nhận rằng ông đã nhận thấy sự thất bại của ông trong thơ. Tất nhiên, một nhà thơ nước ngoài từng nói, thất bại là con đường của mọi nhà thơ. Đó là một cách nói để tôn vinh sự kỳ vĩ của đời sống và nghệ thuật thơ ca mà cho dù chúng ta sáng tạo đến đâu cũng không bao giờ qua được đời sống chúng ta đang sống.

Như vậy có phải tôi đang hy vọng vào các nhà văn, nhà thơ thế hệ 7x, 8x hay 9x chăng? Tất nhiên là chúng ta đang trông chờ vào họ với một sự thủng thẳng và chẳng mặn mà cho lắm. Họ còn trẻ. Họ còn có hai, ba chục năm nữa cho những bứt phá của họ. Nhưng có một nguy cơ dễ hủy diệt sự sáng tạo của họ. Đó là sự sốt ruột với danh tiếng. Hồi trẻ tôi có thích danh tiếng không? Có chứ. Ai mà chẳng thích. Nhưng làm mọi cách để có danh tiếng thì là một vấn đề hoàn toàn khác. Nhưng chúng ta không trông đợi vào họ thì còn trông đợi vào ai nữa? Thế hệ 10x thì chưa xuất hiện. Quả thực có một nhà văn trẻ tôi rất hy vọng. Không phải tôi hy vọng nhà văn này sẽ giành được giải Nobel mà hy vọng con người này sẽ trở thành một tác giả lớn. Một nhà văn Mỹ danh tiếng đã từng làm Chủ tịch Hội đồng giám khảo Giải thưởng Sách Quốc gia Mỹ khi đọc một vài bản thảo của nhà văn này chuyển sang tiếng Anh đã nói: Nếu Việt nam sau này có ứng cử viên cho Giải Nobel văn học thì người này sẽ là người đầu tiên.

Có thể nhà văn trẻ này không phải là người đầu tiên được đề cử cho ứng cử viên Giải Nobel. Và 99% của sự thành công là thuộc về con đường sau đó của nhà văn trẻ này. Nhưng nhà văn Mỹ kia đã nhìn thấy những phẩm chất của một nhà văn chuyên nghiệp, một nhà văn lớn trong những tác phẩm đầu tay của nhà văn trẻ người Việt ấy. Tôi không muốn đưa tên nhà văn trẻ này ra bởi hai lý do. Thứ nhất, tôi không muốn nhà văn này bị quấy rầy bởi dư luận. Mà dư luận này, tôi tin, sẽ là thứ dư luận đố kỵ và thiếu thiện chí. Thứ hai, cứ để người đó sống, trải nghiệm, thất bại, đau đớn, cô độc… và viết.

Từ khi có chính sách đổi mới của Việt Nam thì các tác phẩm văn học Việt Nam được dịch ra nước ngoài nhiều hơn. Đó là một trong những bước quan trọng cho bất cứ nhà văn nào viết bằng tiếng Việt muốn Viện Hàn Lâm Thụy Điển để mắt tới. Theo tôi biết, người có tác phẩm được dịch ra nhiều thứ tiếng nhất là Bảo Ninh. Và người có nhiều tác phẩm nhất được dịch ra tiếng nước ngoài là Hồ Anh Thái. Ngoài ra mỗi năm số tác phẩm văn học Việt Nam được dịch ra nước ngoài một nhiều thêm. Nhưng các nhà xuất bản nước ngoài dịch văn học Việt Nam vẫn với mục đích tìm hiểu và nằm trong các các đề án dịch văn học quốc tế của họ. Trong khi đó, các nhà xuất bản Việt Nam dịch tác phẩm của các nhà văn nước ngoài là do tên tuổi của nhà văn và sự nổi tiếng của các tác phẩm qua dư luận quốc tế. Các nhà văn Việt Nam phải phấn đấu làm sao cho các nhà xuất bản nước ngoài săn tìm tác phẩm của mình như họ săn tìm Totem Sói chẳng hạn.

Trong những lúc trò chuyện hay đàm luận với các nhà văn, nhà xuất bản và bạn đọc nước ngoài, tôi thường hỏi họ về văn học Việt Nam. Hầu hết đều lắc đầu ngượng ngùng vì họ không biết gì lắm về nền văn học của chúng ta. Và nếu có những bạn đọc nước ngoài đã đọc những tác phẩm văn học Việt Nam dịch ra tiếng nước họ thì đều nói về những cuốn sách với những vấn đề chính trị và xã hội Việt Nam chứ không nói đến nghệ thuật tiểu thuyết hay nghệ thuật thơ ca. Mà chính trị hay xã hội vẫn chỉ thuộc về đề tài. Và sự thật, đề tài không bao giờ có ý nghĩa quyết định đối với một tác phẩm văn học.

Điều đó cho thấy, hầu hết các tác phẩm văn học Việt Nam dịch ra tiếng nước ngoài mới chỉ như là một loại tư liệu “đặc biệt” để bạn đọc ngoại quốc tìm hiểu những vấn đề chính trị và xã hội Việt Nam. Đó là sự thật. Có thể những năm tới đây tình trạng này sẽ được thay đổi. Và sự thật cũng cho nhiều người thấy rằng: Rất nhiều nhà văn Việt Nam có vấn đề và nhiều tác phẩm có vấn đề được các nhà xuất bản nước ngoài quan tâm. Đó là những tác phẩm có tính phản kháng. Nhưng giá trị đích thực của nghệ thuật không bao giờ là sự tô hồng hay bôi đen. Nghệ thuật đích thực bay trên đầu cả hai điều đó.

Bây giờ nếu chúng ta hô to một tiếng “nhà văn” như người ta điểm danh thì sẽ nghe ran ran tiếng trả lời: “có tôi”. Chúng ta có quá nhiều người viết văn. Chưa có một đất nước nào mà hầu hết các báo và tạp chí của nước ấy đều có trang cho văn học. Nhưng cũng chưa có đất nước nào như Việt Nam lại dùng văn chương như một cái danh, như một thứ đồ trang sức và như một sự tiến thân. Khi nhà văn còn coi sự sáng tạo văn chương với những mục đích trên thì nhà văn chúng ta vẫn chỉ là bạn đọc của nền văn học thế giới mà khó có thể trở thành tác giả được. Đây là một cách nói và tôi tin mọi người hiểu đúng ý tôi. Và tôi nghĩ, trước khi trở thành nhà văn của thế giới thì chúng ta hãy làm bạn đọc một cách nghiêm túc.

Có không ít nhà thơ Việt Nam hùng hồn tuyên bố: thơ Việt Nam không thua kém gì thơ các tác giả Nobel nếu được dịch ra tiếng nước ngoài. Có những nhà văn mới dịch một vài cuốn sách ra nước ngoài đã nghĩ mình là nhà văn lớn. Và có những nhà văn chưa có sách dịch thì luôn nghĩ nếu sách mình dịch ra thì thế giới sẽ phải cúi đầu. Sự thật là vậy chứ không phải là một cách nói. Tại sao những nhà văn, nhà thơ như tôi nói ở trên lại tin đến như vậy? Vì họ ảo tưởng. Vì sao họ lại mắc ảo tưởng này? Vì họ chưa thực sự thấu hiểu cái lẽ của nghệ thuật.

Bao giờ Việt Nam có giải Nobel văn học? Một câu hỏi cần thiết mặc dù mọi giải thưởng cũng chỉ là giải thưởng. Ngay như giải Nobel thì mỗi năm chỉ trao cho một người trong khi thế giới có ít nhất là hai nhà văn viết ra những tác phẩm mà chúng ta cần phải đọc. Nhưng đã hỏi thì phải trả lời. Và câu trả lời của tôi là sớm nhất là khoảng 35 năm nữa. Đó là ai? Đó chắc chắn là những nhà văn trẻ đang viết trong âm thầm hoặc bắt đầu cầm bút chứ không phải là bất kỳ nhà văn, nhà thơ trẻ nào hiện nay đang ầm ĩ và cố làm cho thiên hạ thấy mình trên nhiều loại diễn đàn như những người mẫu biểu diễn thời trang.

Minh Luận (Vietimes)

Ý kiến của bạn về bài viết này
  Tắt Telex Vni
Họ và tên:   
Địa chỉ:  
E-mail:   
Điện thoại:   
File gửi kèm:    (Max 100KB)
File gửi kèm:    (Max 100KB)
File gửi kèm:    (Max 100KB)
Tiêu đề:   
Nội dung:   
   
CÁC TIN KHÁC
Thê thảm chuyện rừng, sư cũng rưng rưng lên tiếng  (27/05/2008)
Giáo dục: Hiệu trưởng phải là người có... tri thức lớn!  (26/05/2008)
Những cái cười… suy đồi  (23/05/2008)