|
Nhiệm vụ đầu tiên
Tôi mang theo khẩu Browning 9-mm tự động đầu tiên khi tôi mới 20 tôi. Tôi là một thiếu uý quân đội quốc gia thuộc Cục tình báo ở Áo. Đó là lần nhận nhiệm vụ đầu tiên của tôi nên tôi rất vui sướng. Năm đó, có lẽ là năm 1952, tôi ở tiền đồn ở Graz, thuộc khu vực vùng chiếm đóng của quân đội Anh vào đầu những năm chiến tranh lạnh. Khẩu súng khá nặng, theo lời khuyên của một sỹ quan tình báo không quân (còn gọi là A.I.O.) chịu trách nhiệm về chiến dịch, tôi dắt khẩu Browning vào dây lưng ở phía hông bên trái, báng súng nhô ra để dễ dàng rút ngang qua thân mình.
 |
|
Nguồn ảnh: lantabrand.com
| Bên ngoài, tôi mặc chiếc áo choàng màu xanh, mượn được theo lời chỉ dẫn của các lái xe trong ngành an ninh của chúng tôi, thêm vào đó là chiếc mũ Tyrolean màu xanh khá đẹp mà tôi tự mua bằng tiền riêng. Đó là cách lựa chọn trang phục cho một đêm công tác bí mật xuyên qua vùng ngoại ô thưa thớt tới biên giới giữa Áo và Cộng hoà Séc. Mặc dù vậy, A.I.O đã lựa chọn trang phục khác hẳn trang phục truyền thống của điệp viên, áo mưa màu nâu và mũ phớt nhung nỉ, những đồ tư trang này rất phù hợp với bộ ria quân đội của anh ấy, trong cái nhìn còn non nớt của tôi, trông anh rất giống một người Anh. Nhưng anh ấy rất giỏi. A.I.O. là một người hiểu rất rõ về công việc, thông thường, những sỹ quan trẻ còn thiếu kinh nghiệm thường được cấp trên giàu kinh nghiệm nhỏ nhẹ nhắc nhở ở quán bar thuộc khách sạn Wiesler dành cho các sỹ quan người Anh, ở đó A.I.O thường ngồi quan sát vào đầu buổi tối, anh luôn ngồi ở một góc và che nửa người bằng một tờ tạp chí Áo, với chai rượu whiskey bên cạnh và chiếc khăn màu trắng quàng quanh cổ áo vét của anh.
Vì là một điệp viên nên A.I.O sống rất khép kín. Văn phòng của anh, nơi chúng tôi chưa bao giờ vào, nằm trong một biệt thự tao nhã, ở ngoài rìa thị trấn mà quân đội chúng tôi ở Vienna đã trưng thu cho chúng tôi theo kiểu nhà gián điệp. Quy cách của điệp viên là toà nhà càng cao thì càng bí mật. Điều này lý giải tại sao những viên chức an ninh bình thường như chúng tôi thường chỉ được làm việc ở tầng dưới. Nhưng tôi biết cửa sổ phòng anh ấy, cái cửa sổ sát mái nhà, phủ đầy bụi. Anh ấy không có cấp bậc, cũng không có nhân viên. Anh ấy không bao giờ sử dụng phòng thư của chúng tôi. Chúng tôi nghĩ, nhưng không nói ra, rằng anh ấy chỉ tin vào hệ thống truyền thông riêng của mình. Thi thoảng một chiếc hộp giấy thiếc có con dấu của quân đội được chuyển đến cho anh theo đường bưu điện quân đội, mặc dù trông nó giống như đồ đồng nát mà chúng tôi từng thải đi, ngay lập tức, anh ấy vội xuống cầu thang với vẻ mặt nghiêm trọng và trở về phòng mình với chiếc hộp. Người ta nói anh ấy được tặng rất nhiều huân chương nhưng chúng tôi chưa bao giờ nhìn thấy anh ấy mặc đồng phục. Tóm lại anh ấy thực sự kín đáo. Công việc của anh ấy có lẽ cũng nhàm chán như chúng tôi và thực tế anh ấy là người bạn bí mật, là thành viên của MI6, một tổ chức cao nhất của hoạt động tình báo.
“Sao lại là tôi, thưa ngài?” Tôi hỏi anh khi anh đề nghị chúng tôi đi bộ nhẹ nhàng dọc theo dòng sông.
“Bởi anh có khả năng” anh ấy trả lời, theo phong cách của một người không thích phải nói nhiều
Sao ngài biết tôi có khả năng? tôi hỏi.
“Bằng cách theo dõi cậu”
Xe của chúng tôi là chiếc ôtô đen hiệu Volkswagen Beetle với biển hiệu dân sự. A.I.O giải thích rằng anh nhận nó từ cục tình báo Vienna, nơi mà tôi nghĩ là đỉnh núi Olympus. Anh bảo nếu chúng tôi bị cảnh sát Áo chặn lại thì phải nói chúng tôi là 2 thương nhân từ Graz đi mua hàng nông sản. Lý do này sẽ giải thích cho 10.000 đôla trong chiếc căp màu nâu để ở phía sau ghế chiếc Volkswagen Beetle. Số tiền này cũng là của Cục tình báo. Anh ấy nói chỉ khi tất cả các phương án khác thất bại thì chúng tôi mới nên trình thẻ và khai báo chúng tôi là viên chức quân đội Anh đang làm nhiệm vụ mật.
Thoạt đầu, khi chúng tôi lái xe đi, tôi chỉ nghĩ đến khẩu Browning ở thắt lưng mình. Thế nhưng khi màn đêm buông xuống, tôi cảm thấy thoải mái và khẩu Browning trở nên ấm nóng thì tôi và khẩu súng đã trở thành một cặp, điều mà A.I.O nói cần phải như vậy. “Hãy nghĩ về nó như một phần của cậu”, anh ấy khuyên và tôi làm theo, dù đôi khi vẫn phải kín đáo sờ vào chốt an toàn để khẳng định nó vẫn ổn.
Trong hoàn cảnh nào thì tôi cần sử dụng nó, thưa ngài? Tôi hỏi
Trong hoàn cảnh bất ngờ. Nếu những kẻ khủng bố người Séc đến, chúng ta sẽ tấn công. Không cần phải đến lúc tôi nói với cậu, hãy chú ý” Và anh nói như không kịp suy nghĩ, “ Đừng ngắm vào chân, hãy ngắm vào mục tiêu”
Mục tiêu?
“Từ vai đến háng và tất cả các điểm ở giữa”
Tinh thần tôi trở nên can đảm hơn khi gặp một quan chức cấp cao thuộc không lực Séc, đối mặt với cái chết và tình huống xấu nhất để có được thông tin quý báu mang về cho phương Tây. Ngay trong khoảnh khắc đó, A.I.O nói, người của chúng ta đã bò qua biên giới với sự yểm trợ của lính gác biên phòng.
Còn những con chó thì sao? Tôi hỏi
“Đánh thuốc mê”
Một khi đã băng qua biên giới, A.I.O - người luôn kiên trì trả lời các câu hỏi nói, người của chúng ta sẽ tiếp cận một ngôi làng nào đó ở biên giới thuộc Áo, và đó là ngôi làng mà chúng ta đang đến. Tên của nó chỉ được biết khi nhìn thấy biển chỉ đường hiện ra.
Một quán trọ nhỏ bé ngay bên cạnh đại lộ hoang vắng. Ánh đèn vàng nhạt nhoà hắt lên cửa sổ. Chỉ có giọng nói đàn ông, dấu hiệu nói lên sự sống ngay khi chúng tôi bước vào. A.I.O tiến vào trước trong trường hợp gặp rắc rối. Tôi tiến theo sau với chiếc cặp. Một căn phòng có trần nhà rất thấp, một đám tá điền trong trang phục áo khác xanh bỗng dưng im bặt nhìn chằm chằm vào chúng tôi qua làn khói thuốc lá. Một chiếc bàn bi-a đặt ngay giữa phòng. Không có ai chơi bi-a. Tiếp theo là một chiếc ghế trống. A.I.O ngồi xuống. Đặt chiếc cặp dưới chân, tôi ngồi xuống cạnh anh trong lúc đám nông dân vẫn tò mò quan sát. A.I.O bực dọc gọi: “Cho hai bia”, đây là từ tiếng Đức duy nhất mà anh biết. Chủ quán đặt cốc bia trước mặt chúng tôi và tiếng vọng khi chiếc cốc đặt xuống bàn tưởng như còn vang mãi.
“Muốn chơi bi-a không” A.I.O hỏi nhỏ bằng Tiếng Anh, và khẽ nhếch mép.
Muốn chơi một ván, tôi thì thầm trả lời.
Khẩu súng như một phần của tôi, đến nỗi tôi quên cả sự hiện diện của nó ở bên hông mình. Cúi người đẩy quả bóng, tôi giật mình bởi tiếng vật thể kim loại vang trên nền nhà. Tôi nhìn quanh để tìm xem âm thanh phát ra từ đâu. Cuối cùng tôi nhìn thấy khẩu Browning nằm ngay dưới chân mình, nhưng lúc đó quán trọ đã trống rỗng, cả chủ quán cũng đi mất. Tôi lấy khẩu Browning dắt lên thắt lưng và nhặt chiếc cặp lên.
“Để đó” A.I.O ra lệnh và dừng lại uống hết cốc bia.
Sự điềm tĩnh của anh ấy khiến tôi hết sức kinh ngạc. Không một lời khiển trách. Chúng tôi quay lại chỗ chiếc Volkswagen, vào xe và chờ đợi. Đợi ai vậy? Cảnh sát Áo? Hay là điệp viên can đảm của chúng tôi? A.I.O có vẻ thoải mái với mọi tình huống, nhưng không có gì xảy ra. Anh ấy lấy chai rượu Scotland và chúng tôi uống hết. Bình minh lên và không hiểu sao chúng tôi dường như quên đi mục đích nhiệm vụ cao cả của mình. Với bộ dạng thản nhiên, A.I.O khởi động xe và chạy về hướng Graz.
|

|
|
Nguồn ảnh: lovefilm.com
| Giống như các hoạt động tình báo cao quý khác, chúng tôi không biết được kết quả, hay là đối với tôi thì không. Lòng dũng cảm của một binh sỹ không quân Séc sẽ khiến anh ta nỗ lực hơn chăng? Tôi không có cơ hội để hỏi. Hai ngày sau, A.I.O biến mất, không để lại địa chỉ gì. Liệu anh ấy có để lại 10.000 đôla không? Hay giữ số tiền đó cho những ngày tiếp theo. Trong truyện “Điệp viên hoàn hảo”, tôi đã sử dụng một vài chi tiết nhưng mục đích lớn hơn của tôi không cho phép tôi dành cho nó cái mà nó đáng được nhận, như những gì mà người anh hùng của tôi lần đầu giúp tôi khám phá thế giới của các hoạt động bí mật.
Một tâm hồn bị quên lãng
Tuy nhiên, sau vài năm nữa, khi chín chắn hơn, tôi nghĩ rằng tôi sẽ tìm được câu trả lời cho câu hỏi mà mình đã băn khoăn từ lâu. Rằng đã không có sĩ quan Séc nào băng qua biên giới vào đêm ấy. Chiếc vali cũng không có 10.000 đôla, nhiều nhất thì chỉ là một bộ pyjama cũ và một chai rượu Scotland dự trữ. A.I.O không phải là một người con yêu mến của Cơ quan tình báo. Anh ấy cũng không phải là một sỹ quan M.I.6 bí mật. Công việc của anh ta cũng buồn tẻ và vô ích như của chúng tôi. Anh ta chỉ là một trong những tâm hồn bị quên lãng mà chế độ hành chính quân đội thải ra ở một bến bờ xa cách và bị bỏ quên từ nhiều năm. Ngoài ra, anh ta còn điên rồ và sống trong ảo tưởng huyền bí của riêng mình, là một bệnh dịch rất khó để tiêu diệt hoàn toàn, còn hơn cả một con siêu vi trùng trong bệnh viện, trong một thế giới ma quỷ.
Tôi cũng có thể dám đưa ra một lời dự đoán về bản tính điên rồ của anh ta , kể từ sau đêm đó tôi thỉnh thoảng cũng có những dấu hiệu như vậy. A.I.O, cũng như những người còn lại trong chúng tôi, mơ một giấc mơ về một điệp viên vĩ đại. Anh ta tự hình dung về chiếc bàn lớn của các điệp viên đang tham gia một trò chơi tầm cỡ thế giới. Rồi dần dần, khoảng cách giữa mơ ước và thực tế quá lớn so với khả năng chịu đựng của anh, và một ngày anh ta quyết định lấp đầy khoảng cách đó. Anh ta cần một tín đồ trung thành, vì vậy tôi được nhận việc đó. Tôi là một con mồi khá tốt. Vài năm sau, tôi chính thức trở thành thành viên của thế giới đó, thế giới mà A.I.O giả vờ sống, nhưng điều đó không kéo dài lâu, trước khi đến lượt tôi cũng bị mê hoặc bởi hoạt động của một nhân viên mật vụ Anh đích thực, ở một nơi nào khác, người mà có thể làm một cách chính xác mọi việc mà chúng tôi luôn làm hỏng hoặc không làm gì cả.
Giải pháp của tôi là sáng tạo ra một thế giới ma quỷ tốt đẹp hơn phù hợp với nhu cầu của tôi, chỉ giống như A.I.O đã từng làm. Đó chỉ là điều khác biệt duy nhất trong phương pháp của chúng tôi.
Căn bệnh hoang tưởng
Tôi nghĩ rằng người bạn cùng phòng tuổi trung niên dễ mễn của tôi ở Cục an ninh Anh, một người nổi tiếng như M.I.5, cũng bị khổ sở bởi những căng thẳng tương tự của chứng bệnh, mặc dầu triệu chứng của ông ta có khác, nhưng đó là bản chất của căn bệnh này.
Tôi đang nói đến thời kỳ đỉnh điểm của căn bệnh hoang tưởng xuất hiện trong những năm 1950 đến 1970, thực ra là khi mọi người ở M.I.5 có được chút địa vị cao, như ngài Roger Hollis, Tổng giám đốc, cũng đang bị nghi ngờ là một gián điệp của Nga. Virut gây bệnh lây lan khắp Whitehall và Westminster, những điệp viên là người bị tác động nhiều nhất và do họ tự gây ra, nhất là trong giới điệp viên của Mỹ.
 |
|
Nguồn ảnh: static.clip.vn
| Những con vi khuẩn bắt đầu cuộc sống ở Mỹ, trước khi hướng về phương Đông. Đầu tiên là thời kỳ Joe McCarthy. Joe McCarthy mất năm 1957, nhưng hình ảnh của ông ta nhanh chóng được tái hiện lại bởi một bệnh nhân CIA loạn trí có quyền lực có tên James Jesus Angleton, người từng thuyết giáo rằng toàn bộ thế giới ma quỷ phương Tây đang bị kiểm soát bởi các cơ quan đầu não ở điện Kremlin. Theo ngôn ngữ của loài người, tầm nhìn khải huyền của Angleton là có thể tha thứ được. Ông ta được nhận một nền giáo dục ma thuật lừa gạt chỉ đến đầu gối của Kim Philby, một điệp viên hai mang lâu năm ở Cục tình báo Kremlin và là một chỉ huy của M.I.6 ở Washington. Angleton là một người bạn tốt. Nếu một điệp viên nào cần lý do cho sự ra đi khỏi trí nhớ của anh ta, thì đó là James Jesus Angleton: quân bài poker ma ảo, bậc thầy trong giới ma quỷ, người thức dậy vào một buổi sáng và được cho biết rằng người thầy đáng kính của ônh ta, giáo sỹ Kim Philby là một gián điệp Nga.
Tuy nhiên điều đó không lý giải cho CIA, tổ chức đào tạo ra “người hùng” của những tiến sĩ điên rồ và đứng nhìn ông ta đầu độc gia đình mình. Không chỉ có Angleton đơn thương độc mã trong hoạt động. Khi đó, bằng cách ban phước của một ông thầy, ông ta còn thiết lập đường dây tương tự cho các đồng minh thân cận. Tôi nghĩ có khi nào Angleton được mời đến để kết luận một cách lôgic rằng luận điểm của ông ta gần với tổ chức tình báo phương Tây trước khi người Nga vượt qua chúng tôi.
MI5 bị học thuyết của Angleton tấn công và thách thức. M15 không hài lòng với chính các thành viên trong nhóm, một đám sĩ quan cấp bậc trung bình và cấp cao cũng dành thời gian điều tra về thủ tướng Anh Harold Wilson, một chương trong lịch sử M.I.5 được ghi lại bằng một cuốn hồi ký thiếu minh bạch do một kẻ có âm mưu tung ra. Tác giả, có lẽ các bạn còn nhớ, đó là Peter Wright, một quân bài thân cận khác của Angleton. Chính phủ Anh đã nỗ lực ngăn chặn cuốn hồi ký đến với đông đảo độc giả.
(còn nữa)
John le Carré
Quốc Toản dịch theo The New Yorker
|