|
 |
|
Múa rối nước thành Thăng Long – Nguồn ảnh: Internet
|
Các tiết mục múa rối nước thường rất ngắn, thông thường chỉ kéo dài trong khoảng thời gian từ một đến bảy phút. Mỗi vở múa rối thể hiện một khung cảnh, một câu chuyện khác nhau, tái tạo lại một hoạt động hay một khía cạnh nào đó của cuộc sống một cách rất đặc biệt, rất sống động qua những con rối. Những cử chỉ của con người và hành động của các con vật tạo cho người xem một cảm giác rất thích thú, xua tan mọi mệt mỏi sau một ngày làm việc căng thẳng.
Một vở múa rối được xem là độc đáo, là điểm đặc trưng để phân biệt sự sáng tạo của đoàn này với đoàn kia là dựa vào một số cử chỉ tiêu biểu trong đời sống thường ngày được thêm vào một cách đột ngột để thu hút và tạo sự bất ngờ cho người xem. Các vở múa rối còn tái tạo lại đời sống thật bằng tất cả sự đơn giản, mộc mạc của nó để những hình ảnh quen thuộc này sẽ đánh thức, khơi gợi những tình cảm tốt đẹp trong lòng khán giả. Ví dụ, một vở diễn có cảnh một chỗ cạn nước có một đàn cá đang bơi lội thì tự nhiên có một con cá đột ngột tách ra khỏi đàn, nhảy lên, lao ra khỏi dòng nước hoặc một con cá vừa bị mắc lưới đột nhiên nhảy ra ngoài làm cho người đánh cá ngỡ ngàng. Hay một vở rối khác tả cảnh một người phụ nữ vừa làm việc bên khung cửi vừa ngắm nhìn đứa con đang được mẹ của cô bế, sau một lúc, người phụ nữ này phải ngừng công việc lại để cho con bú. Đứa trẻ, sau khi đã được bú no nê lại được trả về cho mẹ người phụ nữ và cô lại tiếp tục dệt vải… Đây thật sự là những hoạt động rất quen thuộc đối với đời sống của người nông thôn xưa khiến cho người xem thấy được hình ảnh của chính mình trong đó, và vì thế nó đã dành được rất nhiều tình cảm của người xem.
Bằng các kĩ thuật điều khiển con rối, những khung cảnh lạ thường có thể được sáng tạo ra, ví như cảnh đầu của võ tướng Khương Linh Tá [1] bị cắt đứt, cái đầu bị văng ra một đoạn khá xa, nhưng sau đó, nhân vật chạy theo sau nó, cúi xuống nhặt nó lên, và lại gắn nó vào cơ thể đã chết của mình. Nhiều vở múa rối bao gồm các hành động di chuyển nhanh chóng, những hành động bất ngờ luôn xuất hiện ở phần cao trào nhất, tạo ra những sự kiện hấp dẫn, ngoạn mục thu hút sự chú ý của khán giả. Tôi rất ấn tượng với một vở rối có một đôi vợ chồng già mang một giỏ trứng lên sân khấu, những quả trứng sau đó nở ra thành một bầy gà con chạy tung tăng khắp vùng, cuối cùng, hai ông bà già phải cố gắng chạy theo sau để canh giữ đàn gà con đáng yêu của mình. Bất ngờ, một con cáo xuất hiện, theo dõi, rượt theo đuổi bắt đàn gà con, cáo ta trèo lên một ngọn cây để trốn. Lợi dụng lúc sơ ý của hai ông bà già, con cáo tấn công bất ngờ, chụp một con gà con cho vào miệng. Đôi vợ chồng già trông thấy liền đuổi theo con cáo, cố gắng đánh lại con cáo gian ác để cứu thoát con gà con tội nghiệp.
Múa rối nước cũng phản ánh những hoạt động khác của đời sống trong các lễ hội làng, bao gồm các vở rối như “đua ngựa”, “chọi trâu”, “chèo thuyền”, “điệu nhảy của bốn con vật thiêng”… Các vở múa rối không bao giờ được dựa hoàn toàn vào bất kì một kịch bản, một vở kịch hay một cốt truyện nào. Những đoàn múa rối khác nhau cùng trình diễn những vở múa rối giống nhau nhưng thay đổi cách thức thể hiện cho phù hợp với đặc trưng kĩ thuật chuyên môn của mỗi đoàn. Họ cũng có thể thêm vào hay bỏ bớt đi một vài chi tiết trong vở đó. Đối với những vở múa rối đơn (rất ngắn), thì chỉ có một đòi hỏi cần thiết là nội dung phải ngắn gọn, dễ hiểu, làm cho người xem có thể hiểu được một cách dễ dàng. Từ sự sáng tạo của các nghệ sĩ, những nhân vật trong các đoàn múa rối khác nhau đã tạo nên được những nét đặc trưng riêng của mỗi đoàn rối ở đồng bằng Bắc bộ.
 |
|
“Chèo thuyền” - Nguồn ảnh: Internet
|
Nhóm các vở rối
Dựa vào nội dung của một vở rối chính, một số các tiết mục múa rối đơn có thể được biểu diễn dưới hình thức các vở ca kịch ngắn hay được trình diễn cùng một nhóm các vở rối khác; Tuy nhiên, các tiết mục sẽ vẫn phải giữ lại những nét đặc trưng riêng của nó. Theo chương trình, một vở múa rối có thể sẽ được trình diễn riêng lẻ hoặc bao gồm trong một nhóm các tiết mục. Ví dụ những công việc như “cày” và “bừa” luôn đi cùng trong một nhóm các tiết mục gọi là “bốn công việc ở nông thôn” (việc câu cá, chặt cây, công việc đồng áng, và việc chăn nuôi gia súc), ngoài ra, còn có nhóm các tiết mục thuộc “năm tầng lớp” (học giả, nông dân, công nhân, thương nhân và lính tráng), nhóm “làm trang trại” (làm các công việc cày, bừa, cuốc xới, trồng lúa, chăn trâu, cắt cỏ,…), nhóm các vở “câu cá” cũng bao gồm rất nhiều thể loại (câu cá bằng cần câu, lưới, vó, lồng,…).
Các con rối ở trong cùng một nhóm thường có phong cách giống nhau để có thể tham gia vào tất cả các vở rối liên quan Ví dụ như những con trâu đầu tiên phải cày, tiếp theo phải bừa, sau đó phải tham gia vào vở “chăn trâu” và sau đó nữa là “chọi trâu”…
Các vở múa rối đơn
Các câu chuyện thông thường được lấy từ các kịch bản có sẵn hoặc được trích đoạn trong các vở tuồng, vở chèo.
Chỉ những trích đoạn có thể phù hợp với múa rối nước mới được chọn. Những trích đoạn này thường là bao gồm nhiều hành động nhưng không có quá nhiều biểu cảm về những tình cảm bên trong, nằm ngoài khả năng của các con rối.
Rất nhiều vở múa rối sử dụng các trích đoạn từ các vở tuồng và các vở chèo như trong các trích đoạn:
Cùng với một số nhân vật khác lập mưu cứu thứ phi và hoàng tử mới sinh thoát khỏi ngục tối, sự việc bại lộ, Khương Linh Tá ở lại cản đường để Đổng Kim Lân đưa thứ phi và hoàng hậu chạy trốn, cuối cùng, Khương Linh Tá bị chặt đầu. (trích từ vở tuồng “Sơn Hậu”).
Vở rối Từ Thức gặp tiên [2] (được trích từ vở chèo Từ Thức).
Thị Mầu lên chùa [3] (trích từ vở chèo Quan Âm Thị Kính [4])
Trận chiến Xích Bích [5] (trích từ vở tuồng “Tam Quốc”)
Điệu nhảy của tám nàng tiên (được trích từ vở chèo Lưu và Nguyễn [6] trên tiên giới)
Kết hợp nhiều tiết mục khác nhau để tạo thành một huyền thoại hoàn chỉnh cũng được người ta áp dụng nhiều hơn là chỉ trình diễn riêng lẻ mỗi trích đoạn được lấy ra trong một kịch bản. Bằng cách này, một vở rối trở thành một câu chuyện đầy đủ, vở “cuộc khởi nghĩa của Lê Lợi" là một ví dụ.
 |
|
Lê Lợi trả lại Gươm - Nguồn ảnh: Internet
|
Các vở múa rối đơn cần phải kết hợp lại với nhau để làm thành một vở rối với những câu chuyện ngắn gọn nhưng đầy đủ như dưới đây:
Mở đầu, một chú Tễu sẽ ra sân khấu giới thiệu về câu chuyện.
Rồi vở “trồng trọt” sẽ được trình diễn đầu tiên (từ nhóm “bốn nghề nghiệp ở nông thôn”) – Lê Lợi cày trên cánh đồng.
Kế tiếp đến vở “đua ngựa” – Lê Lợi và Liễu Thăng [7] đánh nhau trên lưng ngựa.
Tiếp nữa là vở “câu cá” – Lê Lợi đi thuyền câu cá trên hồ.
Đến vở “con rùa” (từ “điệu nhảy của bốn con vật thiêng”) – con rùa vàng đòi lại thanh gươm quý từ Lê Lợi.
Vở “chặt cây chuối” – Chém đầu Liễu Thăng.
Việc soạn thảo các tiết mục với các câu chuyện đầy đủ thông thường luôn đi kèm với việc xem xét trích đoạn hay kịch bản nào đó có phù hợp với múa rối hay không rồi dựng thành các vở múa rối đơn, sau đó ghép chúng lại với nhau vì các vở rối thường được tái tạo lại hay sáng tạo lại từ các vở Tuồng, vở Chèo cổ hay theo một kịch bản nào đó dành riêng cho múa rối. Nhưng đây là một công việc hết sức khó khăn, đòi hỏi sự cố gắng không ngừng của người soạn thảo vì những kịch bản này hầu hết không phù hợp với khả năng trình diễn của các con rối. Và thông thường, không có quá 10 vở trong một chương trình.
Ngôn từ trong các vở rối
Như tất cả các loại múa rối thông thường khác, múa rối nước xuất thân đã chỉ bao gồm các hành động của các con rối, không có lời nói, còn gọi là kịch diễn đạt bằng điệu bộ, không khác kịch câm là mấy. Tài liệu văn học của múa rối ở đây bao gồm các bản viết và các bản soạn thảo bằng từ, tất cả đều được sử dụng để làm công thức dựng nên các vở múa rối. Hay nói cách khác, người ta quan tâm đến việc phải làm thế nào để những cử chỉ của các con rối phải thật hoàn hảo, sau đó, từ ngữ, lời nói của các nhân vật mới được soạn thảo dựa vào các kết quả của những hành động của các nhân vật và hoàn cảnh của nhân vật trong từng vở rối.
Từ ngữ trong các vở rối thông thường là các câu thơ xuất phát từ những cảm xúc tức thì, chứ không phải luôn luôn phù hợp với những cử chỉ của các con rối. Ví dụ, một người đàn ông đang câu cá lại nói về việc câu cá của Lã Vọng [8], một kị sĩ lại nói về việc Quan Vũ [9] làm thế nào để thuần phục được con ngựa đen hung dữ… Những ngôn từ trong các vở múa rối thông thường gợi cho khán giả nhớ đến những câu chuyện có ý nghĩa sâu xa đằng sau những cử chỉ của các con rối.
 |
|
Nguồn ảnh: Internet
|
Việc sử dụng chữ Nôm trong các tiết mục có thể là một yếu tố làm giảm đi giá trị mỹ học của các vở rối. Chữ Nôm thường được các thầy đồ nghĩ ra, những người này tham khảo các giá trị lịch sử ở từng giai đoạn khác nhau, rồi sáng tạo ra chữ Nôm, sau đó lại gán chúng vào những hoạt động của các con rối nhưng hầu như không mấy phù hợp.
Yếu tố có giá trị văn học và phù hợp nhất cho múa rối nước thường là các câu, các bài ca dao và các bài hát dân ca. Những câu thơ và các bài ca có đầy nhạc điệu này mô tả những công việc và các hoạt động thường ngày bằng những từ ngữ rất đơn giản, vui nhộn và đầy biểu cảm.
Các vở múa rối với những câu chuyện được trích ra từ các vở Tuồng, vở Chèo là những trích đoạn ngắn được người soạn thảo thay đổi hoặc sửa đổi đủ để giới thiệu nội dung của những trích đoạn này và làm cho chúng phù hợp với nghệ thuật múa rối hơn. Đây là lý do tại sao các câu chuyện của các vở múa rối luôn khiến cho khán giả hiểu được cốt chuyện một cách nhanh chóng.
Múa rối nước bắt nguồn là một môn kịch câm. Những câu từ văn vẻ sau này mới xuất hiện và tất nhiên chúng xuất hiện muộn hơn nghệ thuật biểu diễn. Những nhân vật dân gian được thể hiện khác nhau trong những biến thể khác nhau của các câu chuyện dựa vào những câu chữ của các cuộc đàm thoại hoặc các bài hát xuất hiện trong các vở rối.
--------------------------------------------------------
[1] Khương Linh Tá, một nhân vật dũng cảm trong truyền thuyết cổ điển mang tên Sơn Hậu.
[2] Từ Thức, một nhân vật trong vở chèo cùng tên , là một sinh viên nghèo, trên đường đến một lễ hội đã gặp một nàng tiên và sau đó họ đã sống với nhau được ba năm. Tuy nhiên, vì quá nhớ quê hương nên anh đã rời chốn tiên cảnh, tìm đường về nhà và nhận ra quê hương anh đã hoàn toàn thay đổi.
[3] Thị Mầu, một nhân vật nữ lẳng lơ trong vở chèo Quan Âm Thị Kính.
[4] Thị Kính, một phụ nữ đoan chính là nạn nhân của một xã hội không công bằng, cuối cùng đã được phong thánh.
[5] Được trích từ vở Tuồng “Ba nước đánh nhau”, trong đó Chu Du, một vị tướng đến từ nước Đông Ngô đã đốt sạch đội tàu chiến của Tào Tháo trên sông Xích Bích để cứu Lưu Bị.
[6] Hai sinh viên, mỗi người cưới một nàng tiên làm vợ (truyền thuyết Trung Quốc)
[7] Một vị tướng nhà Minh bị giết trong trận đánh ở ải Chi Lăng (tỉnh Lạng Sơn) năm 1427.
[8] Một nhân vật lịch sử Trung Quốc, có nhiều công lao trong việc giúp triều đại nhà Chu đánh bại triều nhà Shang 4000 năm trước Công Nguyên.
[9] Một vị tướng nổi tiếng Trung Quốc thời “Ba nước đánh nhau” (thế kỉ thứ III).
Nhật Anh (Vietimes) dịch
|