|
Có thể dẫn lời nhà xã hội học người Đức Georg Simmel (1858–1918) để nói về chủ nghĩa hiện đại trong văn học: “Những vấn đề sâu sắc nhất của đời sống hiện đại đều phát sinh từ sự đòi hỏi của mỗi cá nhân muốn có được sự tự do ý chí và cá tính của mình trong cuộc sống đối diện với các thế lực phức tạp của đời sống xã hội, các di sản của lịch sử, văn hóa và những kỹ thuật sống.”
 |
|
Ulysses - Cuốn sách tiêu biểu cho phong cách của James Joyce
|
Chủ nghĩa hiện đại đã phát triển một văn phong có đặc điểm là luôn quan tâm tới cái lạ trong thi pháp, phân mảnh hình thức, viễn cảnh đa chiều và sự phá cách đối với các hình thức kể chuyện truyền thống. Các tác gia của chủ nghĩa hiện đại ngoài James Joyce ra thì còn có các đại diện là những cái tên “kinh khủng” như Knut Hamsun, Virginia Woolf, T.S. Eliot, Gertrude Stein, H.D., Ezra Pound, Mina Loy, William Faulkner, Ernest Hemingway, Rainer Maria, Franz Kafka, Robert Musil, Joseph Conrad, Andrei Bely, W.B. Yeats, F. Scott Fitzgerald, Luigi Pirandello, D.H. Lawrence, Katherine Mansfield, Jaroslav Hasek, Samuel Beckett, Menno ter Braak, Marcel Proust, Mikhail Bulgakov, Robert Frost, vaf Boris Pasternak.
Các tác giả của chủ nghĩa hiện đại muốn vượt thoát ra khỏi sự trói buộc của dòng văn học hiện thực bằng cách đưa ra những khái niệm như “dòng thời gian đứt đoạn”. Đặc điểm nổi bật của chủ nghĩa hiện đại là lối “siêu” kể chuyện mang tính bứt phá. Có thể nói chủ nghĩa này là một phong trào muốn thoát ly khỏi ảnh hưởng về ngữ nghĩa, văn phong và hình thức của chủ nghĩa lãng mạn. Nó khai thác những chủ đề trần tục và có một thái độ bi quan nặng nề, từ bỏ thái độ lạc quan của văn học thế kỷ XIX (còn gọi là thời đại Victoria; với những đại diện như là Charles Dickens, chị em nhà Bronte, Christina Rossetti, Benjamin Disraeli, Geogre Eliot, Elizabeth Gaskell, Geogre Gissing, Thomas Hardy, Rudyard Kipling, Robert Luis Stevenson, Lord Alfred Tennyson, William Thackeray, Oscar Wilde, Beatrix Potter... ). Các tác phẩm của chủ nghĩa hiện đại (như The Waste Land của T.S. Eliot) thiếu vắng một nhân vật “anh hùng” trung tâm như một sự phản ứng với thuyết duy ngã của các nhà lãng mạn như Shelley (1792–1822) và Byron (1788–1824), đó là sự phản ứng với lối tư duy nhị nguyên và sự phá bỏ lối kể chuyện thông thường bằng một tập hợp những mảnh vỡ rời rạc và những giọng nói chồng chéo.
Các tác giả của chủ nghĩa hiện đại luôn vượt qua những giới hạn của tiểu thuyết hiện thực do họ quan tâm tới những nhân tố lớn hơn như một sự đổi thay về xã hội hay lịch sử. Điều đó được thể hiện rõ nét trong lối viết “dòng ý thức” trong các tác phẩm của Virginia Woolf (Kew Gardens), James Joyce (Ulysses), Katherine Porter (Flowering Judas), Jean Toomer (Cane), William Faulkner (Âm thanh và cuồng nộ)…
Chủ nghĩa hiện đại thực sự là một phản ứng mạnh mẽ trước sự bùng phát của đời sống đô thị đang trở thành lực lượng trung tâm trong xã hội, hơn nữa, đó còn là sự bận tâm tới hình thức của văn học. Trong khi chủ nghĩa lãng mạn nhấn mạnh vào tính chủ quan của sự trải nghiệm thì các tác giả của chủ nghĩa hiện đại quan tâm sâu sắc tới tính khách quan của hoàn cảnh. Họ đã chuyển từ mỹ học nhận thức (mang tính tri thức) sang mỹ học bản thể (mang tính hữu thể). Đó chính là trọng điểm của chủ nghĩa hiện đại.
5. Một thuật ngữ liên tục vang lên từ đầu bài viết này là dòng ý thức cho nên không thể không nhắc đến nó, vì thuật ngữ/thủ pháp này gắn chặt với chủ nghĩa hiện đại.
Đây là một thủ pháp mong muốn phản ánh trung thực ý nghĩ của một cá nhân bằng cách đưa quá trình suy nghĩ của nhân vật hiện ra bằng hình thức chữ viết tương đương, dưới dạng độc thoại nội tâm chẳng hạn. Các tác giả của chủ nghĩa hiện đại đã thể hiện điều đó bằng cách bỏ qua cú pháp và dấu câu, vì thế làm cho độc giả rất khó đọc và nắm bắt được rõ ràng các ý nghĩ và cảm xúc của nhân vật. Dòng ý thức và độc thoại nội tâm hoàn toàn khác với độc thoại kịch thường thấy trong thơ ca và sân khấu. Thuật ngữ này xuất hiện lần đầu trong các nghiên cứu của nhà triết học và tâm lý học Mỹ William James (1842–1910; anh của nhà văn Anh gốc Mỹ nổi tiếng Henry James, 1843–1916).
Các tác phẩm tiêu biểu nổi danh với “dòng ý thức” là:
- Les Lauriers sont coupés (1888) của Édouard Dujardin
- Hunger (1890) và Mysteries (1892) của Knut Hamsun
- Lieutenant Gustl (1901) của Arthur Schnitzler
- Pilgrimage (1915-28) của Dorothy Richardson
- A portrait of the artist as a young man (1916), Ulysses (1922), Finnegans Wake (1939) của James Joyce
- Mrs. Dalloway (1925), To the Lighthouse (1927), The Waves (1931) của Virginia Woolf
- A Drunk man looks at the Thistle (1926) của Hugh MacDiarmid
- Steppenwolf (1927) của Hermann Hesse
- The Sound and the Fury (1929), As I Lay Dying (1930) của William Faulkner
- Molloy (1951), Malone Dies (1951), The Unnamable (1953) của Samuel Beckett
- Gravity"s Rainbow (1973) của Thomas Pynchon
- Seymor: An Introduction (1963) của J.D. Salinger
- Rayuala (Hopscotch) (1963) của Julio Cortázar
- Last Exit to Brooklyn (1964), Requiem for a Dream (1978) của Hubert Selby Jr.
- Tutunamayanlar (The Disconnected) (1972) của Oguz Atay
- Illuminatus (1975) của Robert Anton Wilson & Robert Shea
- Dhalgren (1975) của Samuel R. Delany
- July’s People (1981) của Nadine Gordimer
- Death of Yazdgerd (1982) của Bahram Bayzai
- The Butcher Boy (1992) của Patrick McCabe
- Trainspotting (1993) của Irvine Welsh
- House of Leaves (2000) của Mark Z. Danielewski
- Everything is Illuminated (2002) của Jonathan Safran Foer
- Bộ ba tiểu thuyết Phineas Poe (2005) của Will Christopher Baer
- Tất cả các tác phẩm của Clarice Lispector
Cũng nên xét đến khái niệm “dòng ý thức” xuất phát từ tâm lý học. Đây là khái niệm chỉ dòng suy nghĩ trong ý thức, tất cả các ý nghĩ mà ta nhận thấy được chứ không chỉ là những ý nghĩ thành lời. William James đã đưa ra khái niệm ấy.
Hiện nay người ta có thể thấy dòng ý thức trong các lĩnh vực khác như sân khấu kịch, điện ảnh, truyền hình, âm nhạc (rap và hip-hop là vài ví dụ).
|
 |
|
James Joyce và Ulysses nổi tiếng đến nỗi người ta vẽ bản đồ Bloomsday ở châu Âu mang hình khuôn mặt của ông - Ảnh Internet
|
Trở lại với James Joyce và dòng ý thức thì nổi bật nhất là ông đã dành toàn bộ chương cuối (chương 18) của Ulysses mang tên “Penelope” rất kỳ lạ để thể hiện thủ pháp này. Chương này còn được gọi là “độc thoại nội tâm của Molly Bloom”. Nhân vật Penelope thần thoại trong Odyssey đã được Joyce thể hiện trong đời sống hiện đại bởi Molly. Điểm khác biệt chính giữa hai nhân vật là trong khi Penelope thì thủy chung như nhất thì Molly lại cặp bồ với Hugh Boylan “lừng lẫy”.
Molly là một ca sỹ, vợ của nhân vật chính Leopold Bloom, một nhân viên quảng cáo. Trong Ulysses, cái “tính thể xác” của Molly thường được đối chiếu với “tính trí tuệ” của các nhân vật nam, nhất là với nhân vật Stephen Dedalus. Màn độc thoại nội tâm của Molly bao gồm 8 “câu” với chỉ 2 dấu chấm sau “câu” 4 và “câu” 8, tổng cộng có đến 4.391 từ. Bối cảnh là Molly đưa Leopold vào giường, rồi hồi tưởng lại cuộc gặp đầu tiên và khi Molly phải lòng Leopold. Những suy tư cuối cùng trong cơn ngái ngủ của Molly ở chương 18 là như thế này:
... I was a Flower of the mountain yes when I put the rose in my hair like the Andalusian girls used or shall I wear a red yes and how he kissed me under the Moorish wall and I thought well as well him as another and then I asked him with my eyes to ask again yes and then he asked me would I yes to say yes my mountain flower and first I put my arms around him yes and drew him down to me so he could feel my breasts all perfume yes and his heart was going like mad and yes I said yes I will Yes.
Tạm dịch:
… ta là Hoa của núi vầng khi ta cài hoa hồng lên mái tóc như những cô nàng Andalusian vẫn thường làm hay là ta sẽ cài một bông hồng đỏ dạ vâng và anh ấy đã hôn ta dưới bức tường Ma-rốc và ta nghĩ ôi anh ta đang là một người khác kia và rồi ta hỏi anh chàng bằng ánh mắt lần nữa vầng và rồi chàng hỏi ta có muốn vâng nói rằng vâng làm bông hoa núi của chàng và đầu tiên ta vòng tay ôm lấy chàng vầng và ấn đầu chàng thấp xuống để chàng cảm thấy bầu vú ta thơm lựng vâng và tim chàng đập loạn lên và vâng ta nói vâng em sẽ là bông hoa núi của anh Vâng.
Năm 1921, Joyce gửi thư cho Frank Budgen rằng “lời cuối (rất người) là dành cho Penelope.” Chương 18 bắt đầu và kết thúc đều bằng từ “yes” (dạ/vâng), một từ mà Joyce cho rằng rất “nữ tính”, thể hiện “sự ưng thuận ngấm ngầm và kết thúc mọi kháng cự.” Từ “yes” cuối cùng đối lập hoàn toàn với lời đầu tiên rất khó hiểu của Molly trong chương 4.
6. James Joyce đã tuyên ngôn trước thế giới từ khi còn rất trẻ là ông sinh ra là để đi vào cõi bất tử. Cái tự tin đầy tính “cá nhân” vào tài năng của mình của một chàng trai Ireland đã làm cho văn học thế giới bước lên một bước khổng lồ. Ảnh hưởng của Joyce đối với toàn nhân loại yêu văn hóa nghệ thuật là không ai có thể chối cãi. Rất tiếc, cái ảnh hưởng mang tên James Joyce tới rất nhiều quốc gia thì lại ít được biết đến ở Việt Nam.
Ngay ở Trung Quốc, người ta đã dịch Ulysses trong nhiều năm và khi hoàn thành bản dịch thì phần chú thích lên đến con số 60.000. Đó cũng là một công trình vĩ đại. Dù vất vả nhưng ở đâu trên thế giới người ta cũng đã cố gắng dịch Joyce ra ngôn ngữ của mình. Để có những tác phẩm của James Joyce được dịch ra tiếng Việt chắc chắn cần những sự hợp lực to lớn của nhiều cá nhân và tập thể. Hi vọng một James Joyce của văn hóa toàn cầu không bị “phớt Ăng-lê” trên mảnh đất mấy ngàn năm văn hiến của chúng ta.
Cái đọng lại về Joyce là gì ? Một con người muốn vượt thoát ra khỏi mọi ràng buộc của những định chế khắc nghiệt với kiếp người. Con người ấy muốn phá bỏ mọi luật lệ gông cùm của con người, xã hội và tôn giáo nhưng vẫn không đi ra ngoài những chân lý của các bậc thánh. Hình ảnh của ông có thể ví như công quả của những bậc chân tu mang tinh thần “tử vì đạo”, những bậc Bồ Tát hay A La Hán. Phương tiện tu hành của vị “tu sỹ” này chính là ngôn từ.
Ngôn từ của Joyce là ánh mặt trời khát khao sự thật, khát khao chân lý vĩnh hằng và tự do tuyệt đối. Ánh sáng ấy không chỉ chiếu vào không gian mà còn soi rọi vào những vùng ẩn khuất nhất của tâm thức con người, mà suốt bao thế kỷ trước đây hình như chúng đã bị “đào sâu chôn chặt” trong cõi thăm thẳm vì những lý do mà không ai muốn công nhận: hèn nhát và vô minh. Con người không dám thú nhận mình dốt nát, và kinh khủng nhất là không đủ dũng khí để nhìn thẳng vào lòng mình. Trước Joyce chúng ta có thể được nghe phong thanh những huyền thoại, giai thoại, ngụ ngôn hay những lối nói ẩn dụ, châm biếm, hài hước về những gì sâu kín. Nhưng chỉ đến Joyce thì có lẽ là lần đầu chúng ta được nghe sự thật về chính mình bằng cái cách thẳng băng như đường đi của ánh sáng mặt trời. Gặp Joyce người ta sẽ trưởng thành vượt bậc, sẽ thấy tự tin hơn trước những gì mông muội như thể có được một sức mạnh mới từ cõi vô biên đem lại. Gặp Joyce chúng ta sẽ được giúp tìm thấy cái “chân như” trong tâm để có một tầm nhìn mới với nhân gian, cái nhìn hồn nhiên như “lại về với trẻ thơ” mà Lão Tử đã dạy. Như học giả Nguyễn Minh Vương đã nói (như thể ông là một nhà lý luận của chủ nghĩa hiện đại vậy): “Chỉ có cái nhìn của long lanh của trẻ thơ mới có thể khai quang, mở phơi Tính thể, Linh thể của sự vật, hiện tượng và cụ thể là một tác phẩm văn học. Sự vật hiện tượng thế nào, hãy để nó như vậy, chớ có đem ý niệm ra để mà luận bàn. Mà nếu có bàn luận thì cũng là để mua vui, còn để mà chê bai hay khen ngợi đều giết chết sự vật hay tác phẩm… Đi chệch khỏi con đường đó, con người, nhất là những kẻ mang danh trí thức, nhà phê bình sẽ rơi vào vòng luẩn quẩn của ý niệm nhị nguyên. Bao lâu cái nhìn còn dựa vào lý tưởng văn minh, tự do, hạnh phúc mà không lập cước trên cái Tâm sơ khai rỗng rang tự tại thì bấy lâu chúng ta còn trong vòng nô lệ, vô minh và ngu dốt… [Có được cái nhìn “như thị” về mọi sự trên thế gian] mới giúp người đọc vượt thoát con đường nhị nguyên đã gây hoang phế điêu linh cho nhân loại suốt dọc dài lịch sử”.
|
 |
|
James Joyce (giữa) cùng với Nora và người đại diện của họ - Ảnh Internet
|
Thế giới đã dùng hết nhẵn mọi ngôn từ cao cả và sâu sắc nhất để nói về Joyce, không biết tiếng Việt của chúng ta có đủ phong phú để làm nên điều ấy?
PHỤ LỤC
i) Một bài thơ của James Joyce trong tập Chamber Music (Nhạc thính phòng) qua bản dịch của Lê Cao Phong:
All Day I Hear the Noise of Waters
All day I hear the noise of waters
Making moan,
Sad as the sea-bird is when, going
Forth alone,
He hears the winds cry to the water"s
Monotone.
The grey winds, the cold winds are blowing
Where I go.
I hear the noise of many waters
Far below.
All day, all night, I hear them flowing
To and fro.
Suốt ngày tôi nghe
tiếng động của những dòng nước
Suốt ngày tôi nghe tiếng động của những dòng nước,
Kêu và than,
Buồn như con chim biển, đang bay một mình
Về phía trước,
Nghe những cơn gió khóc cho bài ca đơn điệu
Của dòng nước.
Những cơn gió xám, những cơn gió lạnh đang thổi
Nơi tôi đi.
Tôi nghe tiếng động của nhiều dòng nước
Dưới xa kia.
Suốt ngày, suốt đêm, tôi nghe chúng chảy trôi
Xuôi và ngược.
ii) Bài thơ “Tilly” của James Joyce trong tập Pomes Penyeach qua bản dịch của Nguyễn Hoàng Ái:
Tilly
He travels after a winter sun,
Urging the cattle along a cold red road,
Calling to them, a voice they know,
He drives his beasts above Cabra.
The voice tells them home is warm.
They moo and make brute music with their hoofs.
He drives them with a flowering branch before him,
Smoke pluming their foreheads.
Boor, bond of the herd,
Tonight stretch full by the fire!
I bleed by the black stream
For my torn bough!
Bài thơ thứ mười ba
Chàng du hành theo mặt trời mùa đông
Xua đàn bò bước trên con đường lạnh
Bằng giọng nói ồm ồm, quen với chúng
Dẫn đàn bò trên đỉnh Cabra.
Giọng nói quen gợi ấm áp ngôi nhà
Đàn bò chạy thung thăng và kêu rống
Trên sừng bò làn khói màu mận chín
Chàng quất đàn bò bằng một cành hoa.
Ơi chàng chăn thú, ơi kẻ quê mùa
Đêm nay chàng nằm xoài bên lửa ấm
Còn ta chảy máu bên dòng nước thẫm
Vì đã tan tành hết một cành hoa.
(Bài thơ này trích trong tập Pomes Penyeach. “Tilly” – lối văn nói Ireland là thêm vào. Theo R. Ellmann, người chú thích tác phẩm của Joyce, thì tên bài thơ xuất phát từ việc tác giả thêm bài thơ này vào tập thơ Pomes Penyeach trước đó chỉ có 12 bài [Xem: R. Ellmann, James Joyce; New and Revised Edition, N.Y., Oxford Univ. Press, 1982, p.132])
Đặng Thân
|