James Joyce: Vầng hồng từ đồng cỏ Ireland (Phần I)
Thứ hai, 27/10/2008, 07:00 GMT+7
Một thế kỷ nay, cái tên James Joyce đã làm buốt đầu nhân loại yêu nghệ thuật, nhưng cũng cái tên ấy đã làm dịu bao cơn đau quằn quại của những người khát sống. Tôi đang kể cho các bạn nghe câu chuyện về một người đàn ông Ireland.
1. Nằm ở tây bắc châu Âu Ireland là một hòn đảo mà về độ lớn thì đứng thứ 3 châu Âu và thứ 21 trên thế giới, diện tích chỉ có 81.638 km2. Thế nhưng, đảo quốc nho nhỏ ấy có những đồng cỏ đẹp nhất thế gian và đủ nguồn năng lượng cao quý để sinh ra những nhà văn đủ làm rung chuyển văn hóa thế giới: Geogre Berkeley, Sheridan le Fanu, Jonathan Swift, Geogre Bernard Shaw, Richard Brinsley Sheridan, Oliver Goldsmith, Oscar Wilde, W.B. Yeats, Patrick Kavanagh, Samuel Beckett, Brian O"Nolan (Flann O"Brien), John Millington Synge, Seán O"Casey, Seamus Heaney, Bram Stokey, Elizabeth Bowen, Kate O"Brien, Seán Ó Faoláin, Frank O"Connor, William Trevor cùng James Joyce và nhiều nữa. Trong số ấy đã có 4 cây bút đã ôm giải Nobel về cho một dân tộc mà cho đến nay chỉ có vẻn vẹn 6 triệu người. Họ là Shaw, Yeats, Beckett và Heaney.
Thậm chí Shaw còn từ chối không nhận Nobel vì cả sự nghiệp văn chương của mình, ông tấn công vào lòng tin mù quáng và tính đạo đức giả của con người. Với ông, Nobel cũng là đại diện của những thứ mà ông châm biếm. Đứng trước một vinh dự đỉnh cao thế giới và một khoản tiền thưởng rất lớn như Giải Nobel mà Shaw chỉ nhếch mép cười như thế đã đủ cho chúng ta thấy được khí phách của người Ireland là như thế nào. Với James Joyce thì dù không mang Nobel về cho Ireland cho đủ bộ “ngũ long”, “ngũ xà” hay “ngũ Nô” vì nhiều lí do rất đau xót nhưng ông luôn được coi là một trong những nhà văn vĩ đại nhất của thế kỷ XX. Vì lẽ thất thiệt ấy mà Beckett đã không đến dự lễ trao giải Nobel cho mình để phản đối việc Joyce không được nhận giải này.
Chân dung James Joyce - Nhà văn được coi là tinh thần của đất nước Ireland hiện đại - Ảnh từ Internet
Ireland còn có những tên tuổi lừng danh khác là John Banville, Roddy Doyle, Pádraic Ó Conaire, Máirtín Ó Cadhain, Seamus Ó Grianna, Dermot Bolger, Maeve Binchy, Frank McCourt, Đna O"Brien, Nuala Ní Dhomhnaill, Paul Muldool, Thomas McCarthy, Joseph O"Connor, Eoin Colfer, John McGahern và Colm Tóibín. Những cái họ mang mẫu tự O" hay Ó như những tia sáng mặt trời mang sắc mầu Ireland rải khắp nhân gian. Với những người say mê với ngôn ngữ và văn học tiếng Anh thì chỉ cần vài cái tên như Jonathan Swift, Geogre Bernard Shaw, Oscar Wilde hay Samuel Beckett là đã thừa đủ đem lại niềm hoan lạc trí tuệ cho họ suốt cả một đời.
2. Chàng trai Jim Joyce sinh ra ở cái nôi chật chội mà khổng lồ ấy, vào năm 1882 tại thủ đô Dublin. Dù gần suốt giai đoạn trưởng thành Joyce sống lưu vong nhưng Dublin luôn ở trong tim và Joyce luôn viết về nó. Và với sự xuất bản siêu phẩm Ulysses năm 1922 của Joyce, sau này từ năm 1954 người dân Dublin đã vinh danh Joyce trong “ngày hội Bloom” (Bloom là nhân vật chính của Ulysses) vào 16 tháng 6 hàng năm. Suốt cả ngày này người ta tái hiện mọi sự kiện trong cuốn tiểu thuyết ấy, đó là thời gian Joyce có cuộc hẹn gặp người vợ tương lai Nora Barnacle: 16 tháng 6 năm 1904. Trong ngày này người ta đọc Ulysses, diễn kịch, tập trung trong các quán để uống bia rượu, mọi người ăn mặc theo kiểu thời vua Edward VII (trị vì nước Anh vào những năm 1901–1910, sau này ông đã từ bỏ ngai vàng để được đi theo tiếng gọi con tim) và đi dọc theo những tuyến phố mà nhân vật Bloom đã đi qua (với địa điểm đáng chú ý nhất là quán rượu Davy Byrne"s Pub tại 21 phố Duke). Người ta còn tổ chức đọc Ulysses kiểu marathon, có khi kéo dài đến 36 tiếng. Năm 2004, lễ hội Joyce đã kéo dài đến 5 tháng (1/4–31/8/2004)! Vào ngày Chủ nhật trước ngày kỷ niệm 100 năm của những sự kiện trong cuốn sách có 10.000 người dân Dublin đã được mời miễn phí một bữa sáng kiểu Ireland tại phố O"Connell. Ngày này còn được tổ chức ở nhiều nơi bên Mỹ và Hungary (quê cha của nhân vật Bloom) hay tại Trieste (nơi Joyce viết 2 phần đầu cuốn Ulysses) ở tây bắc nước Ý cùng nhiều sự kiện thể thao khác như Lilac Bloomsday Run ở Washington, Mỹ. Ulysses là thế nào mà ghê gớm vậy?
Tượng James Joyce trên đường phố Trieste - thành phố thuộc Italia ngày nay - nơi ông đã từng sống trong những tháng ngày lưu lạc khắp châu Âu - Ảnh Internet
Khởi đầu nghiệp chữ nghĩa của Joyce – bài thơ “Et Tu Healy” (1891) – đã mang dấu hiệu bi kịch, bởi vì nó mà cha của Joyce, ông John Stanislaus Joyce, bị mất việc làm, đẩy gia đình đến chỗ khốn khó. Thời vị thành niên Joyce được dạy dỗ tử tế nhưng rồi phải bỏ khi cha mất việc, thế rồi Joyce tự học. Ở tuổi 16 Joyce đã bỏ đạo Catholic, thế nhưng triết lý của Thánh Thomas Aquinas vẫn ảnh hưởng mạnh mẽ đến Joyce suốt cả cuộc đời.
Năm 1898 Joyce đến Đại học Dublin (UCD) học ngôn ngữ, chú trọng vào cả tiếng Anh, tiếng Pháp và tiếng Ý. Với vốn ngôn ngữ ấy (và cả ngôn ngữ rất cá tính của Ireland nữa) cùng với đời sống lưu vong khắp nơi đã làm cho Joyce có một hệ thống từ vựng có một không hai, sau này Joyce đã đổ hết vào cuốn Finnegans Wake (xuất bản năm 1939) khiến cho đến tận bây giờ vẫn ít người hiểu nổi.
Tốt nghiệp UCD năm 1903 Joyce sang Paris “học thuốc” nhưng rồi phải nhanh chóng trở về. Bà mẹ rất sợ cái sự bất kính Chúa của Joyce nên muốn ép Joyce phải xưng tội nhưng rồi đến tận khi bà chết vì ung thư thì Joyce vẫn trơ ra, thậm chí giận bà đến mức không chịu quỳ bên linh cữu lúc cả nhà cầu nguyện cho bà. Sau đó Joyce còn nghiện rượu. Nghèo túng, Joyce cào cấu kiếm tiền bằng viết điểm sách, dậy dỗ và hát hò. Joyce sở hữu một giọng tenor rất hay và đã từng đoạt huy chương năm 1904 tại liên hoan âm nhạc và múa Feis Ceoil. Cũng năm này Joyce muốn xuất bản A Portrait of the Artist as a Young Man, một tập truyện luận đề theo thiên hướng duy mỹ, nhưng bị từ chối. Joyce quyết định viết lại thành tiểu thuyết với cái tên Stephen Hero. Cũng năm này Joyce gặp cô hầu phòng Nora Barnacle, và họ đã hẹn gặp nhau lần đầu vào một ngày sau này đã trở thành lịch sử: 16/6/1904.
Joyce nghiện rượu ngày càng nặng. Trong một lần say xỉn dẫn đến ẩu đả Joyce được cha Alfred H. Hunter chăm sóc. Và đây chính là nguyên mẫu của nhân vật Leopold Bloom trong Ulysses.
Sau đó cùng với Nora nhà văn của chúng ta bắt đầu cuộc lưu vong sang lục địa châu Âu. Từ 1904 đến 1920 là những cuộc qua lại giữa Trieste và Z
ürich. Tại những nơi này Joyce kiếm sống bằng nghề dạy học. Sau cú tạt “về nhà” năm 1912 để tranh đấu vụ xuất bản tập truyện ngắn Dubliners, Joyce rời Ireland mãi mãi. Năm 1915 tại Z
ürich, Joyce đã gặp những người bạn vàng: họa sỹ người Anh Frank Budgen (1882–1971) – người cho Joyce những ý kiến quý giá để viết Ulysses và Finnegans Wake và đại thi hào Mỹ Ezra Pound (1885–1972) – người suốt đời ái mộ Joyce và đã dẫn ông đến gặp vị cứu tinh lâu dài của đời mình – Harriet Shaw Weaver.
Suốt 20 năm sau, từ 1920 đến 1941 Joyce sang Paris và qua lại giữa thành phố này và Z
ürich. Trong quãng đời này Joyce giành phần lớn thời gian viết Finnegans Wake. Joyce đã chết vì bị ung độc và được chôn cất ở ngay cạnh sở thú Z
ürich.
3. Đằng sau cuộc đời Joyce có những gì?
Joyce ảnh hưởng mạnh mẽ tới Hugh MacDiarmid, Mamuel Beckett, Jorfe Lúi Borges, Flann O"Brien, Máirtín Ó Cadhain Salman Rushdie, Robert Anton Wilson và Joseph Campbell.
Những tác phẩm chính của Joyce gồm:
Dubliners(1): tập truyện là những trải nghiệm của Joyce về Ireland, là nền tảng cho văn chương của Joyce, là bối cảnh cho các tác phẩm của Joyce. Các truyện ngắn trong tập này phân tích sự tù đọng và tê liệt của xã hội Dublin. Truyện ngắn “The Dead” nổi tiếng nhất trong tập đã được dựng thành phim vào năm 1987.
A Portrait of the Artist as a Young Man(2): cuốn tiểu thuyết này được viết lại từ Stephen Hero. Trong một cuộc cãi vã với Nora tác giả đã đốt mất một phần chỉ vì Nora khăng khăng rằng nó sẽ không bao giờ được xuất bản. Nhân vật chính Stephen Dedalus phần lớn là hiện thân của Joyce. Trong cuốn này Joyce đã khởi động những thủ pháp mà sau này ông phát triển lên cao độ như là độc thoại nội tâm, chú tâm đến thực tế tâm lý nhân vật hơn là ngoại cảnh. Cuốn này cũng đã được dựng thành phim vào năm 1977.
Trong danh sách “100 tiểu thuyết hay nhất” nhà xuất bản Random House xếp cuốn này đứng hàng thứ 3.
Exiles(3): đây là vở kịch duy nhất mà Joyce xuất bản (1918). Vở kịch này quay lại với “The Dead” và hướng tới Ulysses.
Về sự nghiệp thơ ca thì Joyce cũng xuất bản khá nhiều tập. Bắt đầu với tác phẩm châm biếm “The Holy Office” (ra mắt năm 1904). Sau đó là tập thơ dài hơi 36 bài Chamber Music rất giàu nhạc tính. Ngoài ra còn có bài “Gas from a Burner” (xuất bản năm 1912) và tập Pomes Penyeach13 bài (xuất bản năm 1927). Cuối cùng phải kể đến tập Collected Poems (1936). Đặc điểm nổi bật ở thơ ông là giầu nhạc tính.
Ulysses: từ năm 1906 Joyce đã có ý tưởng cho tiểu thuyết bất hủ này. Năm 1921 thì Joyce viết xong tác phẩm, sau khi đọc duyệt kĩ càng Joyce tuyên bố nó được chính thức hoàn thành vào lần sinh nhật thứ 40 của ông (2/2/1922). Tác phẩm được xuất bản lần đầu tại Paris năm 1922, rồi tại Anh (nhờ công của Harriet Shaw Weaver). 500 bản in tại Anh đến Mỹ để rồi bị thu giữ và phá hủy, vì người Mỹ đã cấm Ulysses (cho đến tận năm 1933). Một năm sau 500 bản khác được in ra để thay thế nhưng chúng đã bị đốt ngay tại trạm hải quan ở cảng Folkestone của Anh. Cũng vì bị cấm đoán nên người ta đã in lậu khá nhiều.
Năm 1922 là thời điểm quan trọng bậc nhất của chủ nghĩa hiện đại trong lịch sử văn học tiếng Anh khi Ulysses của James Joyce và tác phẩm thơ dài 434 dòngThe Waste Land(4) của T.S. Eliot ra đời. Hai ông đã trở thành hai đại diện lớn nhất về văn xuôi và thi ca của chủ nghĩa hiện đại. Trong Ulysses Joyce đã sử dụng nhiều thủ pháp như dòng ý thức, giễu nhại, đùa tếu và tất cả các thủ pháp có thể để đưa ra các nhân vật của mình. Mọi hoạt động trong tiểu thuyết này chỉ diễn ra trong vòng một ngày, đó là ngày 16 tháng 6 năm 1904. Joyce tái hiện Odyssey của Homer trong Ulysses, thay thế các nhân vật Odysseus (tức Ulysses), Penelope và Telemachus bằng Leopold Bloom, cô vợ Molly Bloom và Stephen Dedalus đối nghịch lại những hình mẫu cao cả họ trong Odyssey. Tiểu thuyết này của Joyce đi sâu vào mọi mặt của đời sống Dublin với đầy rẫy sự bẩn thỉu và đơn điệu. Điều quan trọng là Joyce đã cố gắng thể hiện một Dublin hết sức chi tiết, với mục đích “tôi muốn đưa ra một bức tranh toàn thể nhất về Dublin để nếu như có một ngày thành phố này bỗng nhiên biến mất khỏi mặt đất thì người ta có thể xây dựng lại nó dựa vào cuốn sách của tôi.”(5)
Ulysses gồm 18 chương, mỗi chương gồm những sự kiện diễn ra trong gần 1 giờ, bắt đầu lúc 8 giờ sáng và kết thúc vào khoảng sau 2 giờ sáng hôm sau. Mỗi chương đều có một văn phong riêng, đều quan hệ tới một đoạn cụ thể trong Odyssey và đều liên hệ tới một mầu sắc, một ngành nghệ thuật, khoa học hay bộ phận cơ thể có liên quan. Joyce còn sử dụng thần thoại cổ điển như một bộ khung của cuốn sách và chú tâm vào các chi tiết bên ngoài để thể hiện những hành động đang xẩy ra trong tâm trí các nhân vật.
Năm 1967 Joseph Strick đã làm phim về Ulysses, đến năm 2004 Sean Walsh lại dựng một bộ khác. Nhà xuất bản Random House và nhiều nhà văn lớn của thế giới xếp cuốn này đứng thứ 1 trong danh sách “100 tiểu thuyết hay nhất” thế kỷ XX.
Ngày hội Bloomsday được tổ chức ngày 16.6 hằng năm tại Trung tâm James Joyce tại Ireland - Ảnh gradstudies.carlow.edu
Finnegans Wake:(6)Joyce bắt đầu viết cuốn này từ năm 1923, đến năm 1926 ông cũng chỉ viết xong 2 phần đầu, và công việc tiếp tục cho đến tận những năm 1930. Có những phản ứng khác nhau về cuốn sách, thậm chí có người có ý thù địch. Đến 1939 thì Finnegans Wake được xuất bản.
Những phương pháp của Joyce như dòng ý thức, những lời ám chỉ và những giấc mơ lộn xộn đã được đẩy lên hết cỡ trong Finnegans Wake. Tác phẩm này từ bỏ tất cả những quy ước về xây dựng cốt truyện và nhân vật, được viết bằng một ngôn ngữ “tối tăm” và “lập dị” dựa trên những lối chơi chữ đa tầng vô cùng phức tạp. Nếu Ulysses diễn ra trong một ngày thì Finnegans Wake xẩy ra trong một đêm với logic của những giấc mơ. Vì thế mà nhiều người không thể đọc được nó, tuy vẫn biết được các nhân vật và cốt truyện khái quát.
Các trò chơi chữ trong Finnegans Wake đều đa ngôn ngữ. Trong tác phẩm này người ta thấy những quan điểm về lịch sử của Giambattista Vico(7), siêu hình học của Giordano Bruno(8). Vico đưa ra quan điểm về “vòng tròn lịch sử” mà mọi nền văn minh đều đi từ hỗn loạn đến thần quyền, quân quyền, dân chủ rồi lại trở về hỗn loạn. Bản thân Finnegans Wake cũng là một “vòng tròn” lớn khi bắt đầu bằng phần cuối của câu cuối cùng đang dở dang.
Từ giữa thế kỷ XX người ta đã cho rằng nếu Ulysses là đỉnh cao của thế kỷ XX thì Finnegans Wake là tác phẩm của thế kỷ XXI.
-----------------------------------------------
(1) Người Dublin.
(2) Chân dung nghệ sỹ trẻ. Ở Việt Nam đã có một số bản dịch tiểu thuyết này, gần đây nhất là bản dịch của Nguyễn Thế Vinh (Nxb Thế Giới, 2005).
(3) Những người tha hương.
(4) Đất hoang.
(5) Theo Frank Budgen, James Joyce and the making of "Ulysses", and other writings của Frank Budgen, tr 69.
(6) Finnegans thức.
(7) Giambattista Vico, Giambattista Vigo hay Giovanni Battista Vico ( 1668 - 1774): nhà triết học, sử học, tu từ học và luật học người Ý.
(8) Giordano Bruno (1548 – 1600): nhà triết học người Ý.