|
Càng ngày người ta càng nhận thấy sự chênh lệch về giới tính trong các công việc mang tính khoa học và công nghệ càng lớn thêm ra và người ta lại đưa ra những lý do biện hộ cho vấn đề này theo những chiều hướng khác nhau như: do các công ty có sự phân biệt đối xử theo giới tính, các khóa học về khoa học và toán học chỉ thích hợp với nam giới hay đổ lỗi cho sự khác biệt về năng khiếu.
Phụ nữ hiện nay chiếm đến gần một nửa lực lượng lao động trên toàn thế giới, tuy nhiên họ lại chỉ đảm nhiệm một phần nhỏ những công việc trong một số lĩnh vực nhất định có thu nhập cao hay có tiêu chuẩn cao. Họ chiếm 20% số lượng kỹ sư, gần 1/3 số lượng các nhà hóa học, và chỉ khoảng 1/4 số lượng các chuyên gia về máy tính và toán học.
Trong hơn một thập kỷ qua, mục đích của các cuộc hội thảo, các nghiên cứu hay các cuộc hội đàm chính phủ đều hướng đến việc tìm hiểu khoảng trống về giới tính này. Vấn đề này luôn nhận được sự chú ý của các kênh thông tin đại chúng. Ông Larry Summers - Chủ tịch của Đại học Harvard - cuối cùng cũng đã phải trả giá bằng chính công việc của mình sau khi đưa ra những ý kiến không xác đáng về vấn đề này tại một cuộc hội thảo của Đại học Harvard vào năm 2005.
Hiện nay, hai nghiên cứu mới của các nhà kinh tế học và xã hội học đã đi đến một kết luận có thể nói là rất sửng sốt: Họ tìm ra rằng một phần quan trọng lý giải cho khoảng cách về giới tính này là những sở thích của chính những người phụ nữ. Khi đề cập đến những công việc có liên quan đến toán học hay khoa học, vẫn có một số lượng đáng kể phụ nữ đáp ứng đủ những tiêu chuẩn cao đòi hỏi trong công việc nhưng họ lại từ chối làm những công việc này đơn giản là vì họ thích làm những công việc khác hơn.
Một nghiên cứu về những nhân viên làm việc trong ngành công nghệ thông tin đã phát hiện rằng, sở thích của phụ nữ là yếu tố quan trọng nhất tạo ra sự mất cân bằng về giới tính lớn như vậy trong lĩnh vực này. Một nghiên cứu khác được thực hiện với 5.000 sinh viên có năng khiếu về toán học thì đã kết luận là những người phụ nữ có bằng cấp đa phần có xu hướng tránh né những công việc có liên quan đến vật lý hay các môn khoa học “nặng nhọc” khác. Thay vào đó, họ thích những công việc có liên quan đến lĩnh vực dược phẩm hay công nghệ sinh học hơn.
Điều quan trọng cần chú ý là những phát hiện này chỉ mang tính tương đối và không hoàn toàn đúng với tất cả phụ nữ hay nam giới. Trên thực tế, có một sự khác nhau tương đối lớn giữa hai giới. Các nhà nghiên cứu không nhằm mục đích chỉ ra rằng sự phân biệt đối xử theo giới tính và những áp lực về văn hóa đè nặng lên người phụ nữ trên thực tế không có vai trò gì cả, và họ thực sự cũng không biết lý do vì sao phụ nữ lại chọn những công việc như vậy. Ví dụ như một bài báo trong tờ Harvard Business Review đã chỉ ra rằng phụ nữ thường từ bỏ các công việc liên quan đến kỹ thuật với lý do: sự phân biệt đối xử theo giới tính trong các ngành nghề này quá lớn.
 |
|
Rất ít phụ nữ thích làm các công việc liên quan đến công nghệ - Nguồn: mdwit.org
|
Nhưng nếu các nhà nghiên cứu đúng thì một phần nhất định khoảng cách giới tính chỉ là sản phẩm tự nhiên của một xã hội tự do, nơi mà đàn ông và phụ nữ có thể tự lựa chọn nghề nghiệp của chính mình. Và nếu hiểu được rằng sự lựa chọn của các cá nhân tạo nên tình trạng cân bằng về giới thì những công việc đem lại thu nhập cao chắc sẽ được cân nhắc và sẽ nằm trong số những giải pháp có hiệu quả và hợp thời nhất để giải quyết những vấn đề đã làm nhiều người phải bận tâm không phải chỉ trong vòng một thế hệ.
Một vài năm trước đây, Joshua Rosenbloom, một nhà kinh tế học thuộc trường Đại học Kansas, bắt đầu quan tâm đến vấn đề này thông qua một chiến dịch mới do Quỹ khoa học quốc gia thực hiện nhằm giải quyết tận gốc cái được gọi là sự phân biệt đối xử về giới tính ngày càng lan rộng trong khoa học và kỹ thuật. Cơ quan này đã dành ra 19 triệu đôla một năm để thực hiện các chương trình tư vấn, các hội thảo về sự thiên lệch về giới và khuyến khích thực hiện môi trường làm việc mang tính hợp tác.
Rosenbloom không có ý kiến nào tranh luận về mục tiêu của sự công bằng về giới. Nhưng ông nhận thấy rằng các bang ở Mỹ đang tiêu tốn rất nhiều tiền mà không lưu ý đến việc nó sẽ có hiệu quả như thế nào, vì không có một số liệu đáng tin cậy nào về nguyên nhân dẫn đến sự mất cân bằng giữa đàn ông và phụ nữ trong các lĩnh vực khoa học.
Để trả lời được câu hỏi này, Rosenbloom đã khảo sát hàng trăm chuyên gia trong lĩnh vực công nghệ thông tin, một lĩnh vực mà phụ nữ bị hạn chế nhiều trong việc thể hiện bản thân mình. Ông cũng khảo sát hàng trăm trường hợp những người làm việc trong các lĩnh vực mà đàn ông và phụ nữ có cơ hội tương đối ngang bằng nhau. Nghiên cứu này còn kiểm chứng cả lịch sử công việc và gia đình, nền tảng giáo dục và sở thích nghề nghiệp của các đối tượng.
Kết quả của nghiên cứu này quả thật đáng chú ý. Những áp lực về công việc, gia đình không thể là lý do chính giải thích vì sao không có nhiều phụ nữ làm việc trong các ngành có liên quan đến công nghệ thông tin, tuy những công việc trong lĩnh vực máy tính cũng không đòi hỏi nhiều thời gian hơn là bao so với những công việc nằm trong các nhóm dẫn đầu. Năng lực cũng không phải là lý do, vì phụ nữ công tác trong cả hai nhóm công việc đều có nền tảng hiểu biết về toán học dồi dào như nhau. Tuy nhiên, có một điểm khác biệt rõ rệt: đó là đối với xã hội đàn ông và phụ nữ được đánh giá như thế nào trong công việc của họ?
Rosenbloom và các cộng sự đã áp dụng một bài kiểm tra khám phá tính cách cá nhân tiêu chuẩn để xác định sự ưu tiên của mỗi người đối với những loại công việc khác nhau. Nói chung, nghiên cứu của ông đã phát hiện ra rằng những người đàn ông và phụ nữ thích thú với việc thao tác các công cụ hay máy móc một cách chính xác có xu hướng lựa chọn những công việc trong lĩnh vực công nghệ thông tin – và thường thì nam giới chiếm đa số trong lĩnh vực này. Trong khi đó, những người thích tiếp xúc và làm việc với nhiều người khác ít có xu hướng lựa chọn nghề nghiệp trong lĩnh vực công nghệ thông tin. Nếu tính trung bình thì phụ nữ lại chiếm đa số trong khía cạnh này.
Rosenbloom và nhóm của ông đã tổng kết: sở thích cá nhân là nhân tố duy nhất có tác động quyết định đến việc phụ nữ có tham gia vào lĩnh vực công nghệ thông tin hay không. Theo Rosenbloom sở thích cá nhân là nguyên nhân dẫn đến 2/3 tình trạng mất cân bằng về giới trong lĩnh vực này. Nghiên cứu này được công bố vào tháng 11 năm 2007 trên tờ Journal of Economic Psychology.
Có vẻ như là một sự phân biệt đối xử theo giới nếu nói rằng phụ nữ thích cộng tác và làm việc với nhiều người khác trong khi đàn ông lại thích thao tác và sử dụng máy móc, đồ vật. Rosenbloom thừa nhận điều này, song cũng nói rằng dù là vì lý do xã hội hay vì những “sự khác biệt căn bản về giới” thì cả hai giới nói chung có những mối quan tâm và sở thích về nghề nghiệp khác nhau.
 |
|
Nguồn - technet.com
|
Trong một cuộc phỏng vấn, Rosenbloom cho biết: “Nghe có vẻ như là định kiến, song những định kiến đó lại có một phần nào đó bắt nguồn từ thực tế”.
Ông chỉ ra rằng theo cách nói của các ngành khoa học xã hội thì phụ nữ tự thân họ không bao giờ lựa chọn sự nghiệp có liên quan đến ngành công nghệ thông tin. Khái niệm về việc “tự lựa chọn” này đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học xã hội vì nó được coi như là một cách giải thích cho cái cách mà các nhóm tự phân loại họ theo thời gian. Do đặc tính của con người là hỗn tạp và không đồng nhất nên việc “tự lựa chọn” sẽ dẫn đến một hệ quả là khi người ta có nhiều sự lựa chọn khác nhau và được tự do lựa chọn thì họ sẽ đưa ra những sự lựa chọn rất khác nhau và tự phân loại mình theo những nhóm khác nhau theo những cách không hề ngẫu nhiêu chút nào. Nói cách khác, cả khi đem đến cho họ những cơ hội như nhau, thì không phải tất cả mọi người đều có hành động giống nhau – và do đó, cũng có những lý do có thể chấp nhận được giải thích cho việc mỗi người sẽ có một cách hành xử khác nhau, không ai giống ai.
Khái niệm “tự lựa chọn” đã gióng lên một hồi chuông đòi hỏi mọi người phải đấu tranh giành quyền lợi cho phụ nữ. Có vẻ như bản thân người phụ nữ phải chịu trách nhiệm về cái khoảng cách về giới này. Hay nó cũng có thể là một lý do giải thích cho vai trò của họ trong lực lượng xã hội bị đánh giá thấp, trong đó bao gồm cả sự phân biệt đối xử trong lớp học cũng như ở nơi làm việc.
Nhưng việc tự lựa chọn cũng được đưa ra để giải thích trong những nghiên cứu khác gần đây về tình trạng mất cân bằng về giới, bao gồm cả cuộc nghiên cứu dài hạn Vanderbilt của Camilla Persson Benbow và David Lubinski.
(Còn nữa)
Elaine McArdle
Thu Linh dịch từ tạp chí Boston Global
|