|
Bài phát biểu của giáo sư Erik Lundberg. Viện khoa học hoàng gia
Trong phạm vi rộng, kinh tế học được coi là liên quan tới những bài toán về chính sách, cách thức và lý do tại sao chính phủ trong những nỗ lực của họ nhằm xử lý các cơn khủng hoảng lại liên tiếp tạo ra những phức tạp trong và giữa các nước. Đối với các phân tích và lý giải những dòng phát triển khác nhau, lượng cầu đã được thiết lập dựa trên phương pháp luận và xây dựng các mô hình kinh tế. Đáng tiếc, khoa học xã hội- mặc dù có nhiều hoài bão lớn- không thể đạt được độ chính xác như mong muốn. Khả năng vô tận của con người và chính phủ gây ra những rắc rối mới, những mâu thuẫn và xung đột mới, không bao giờ mới hết được và vượt xa năng lực của các nhà kinh tế nhằm đem lại trật tự cho hệ thống xã hội.
Người đạt giải kinh tế học năm nay là Milton Friedman. Thực tế phân tích của ông đã hướng chính xác vào việc làm rõ và hệ thống hóa những quan điểm kinh tế của chúng ta bao gồm các lĩnh vực, ngoài chính sách kinh tế, còn có lịch sử kinh tế, thuyết kinh tế và các bài toán luận kinh tế.
Có lẽ đặc điểm tiêu biểu nhất của giáo sư Milton Friedman là khả năng và thiên hướng độc đáo tác dụng có hiệu quả và làm xáo trộn những quan niệm hiện thời và những hiểu biết được hình thành trước đó. Nếu không có những đóng góp động lực của Milton Friedman trong nhiều lĩnh vực, người ta sẽ có thể tuyên bố rằng sự phát triển của nghiên cứu kinh tế có lẽ sẽ khác, hoặc có thể chỉ sau khi tiến trình hiện tại của nó đã diễn ra. Khả năng ảnh hưởng đến tiến trình nghiên cứu và các cuộc bàn luận về chính sách kinh tế của Milton Friedman làm người ta nhớ lại một số ảnh hưởng của Keynes. Dựa trên một nền tảng cần thiết, thường được đơn giản hóa đáng kể, những phê bình của học thuyết chủ nghĩa, giáo sư Friedman đã trình bày một luận điểm hoàn toàn khác, một giả thuyết thay thế, phần lớn nhờ sự trợ giúp của phân tích thực nghiệm.
Tên tuổi của giáo sư Friedman chủ yếu gắn với cuộc phục hưng quan trọng quan điểm về tiền khi làm rõ về hiện tượng lạm phát đồng thời những hiểu biết và niềm tin phổ biến bấy giờ về triển vọng trong chính sách chính sách tiền tệ. Nhờ ông, chúng ta có được khẩu hiệu “những vấn đề tiền tệ” hoặc thậm chí “những vấn đề chỉ vì tiền” khi nhắc tới sự xuất hiện của chính sách tiền tệ. Vai trò quan trọng rõ rệt của tiền cần được xem xét theo phương diện, cách thức các nhà kinh tế học- thường là những người kế vị Keynes- qua một thời gian dài hầu hết xao lãng về tiền và chính sách tiền tệ trong các phân tích về chu kì kinh doanh và lạm phát. Từ đầu những năm 1950, giáo sư Friedman đã khởi xướng những phản ứng đúng đắn chống lại các xu hướng sau Keynes. Cuộc tranh cãi mạnh mẽ về lý thuyết tiền tệ của Friedman và những khuynh hướng này cũng làm cho ngân hàng trung ương phải xem xét lại chính sách tiền tệ- đầu tiên là ở Mỹ, và Tây Đức. Thật vậy, hiếm khi một nhà kinh tế nào có được tác động trực tiếp và gián tiếp như giáo sư Friedman, không chỉ đối với các nghiên cứu trong lĩnh vực kinh tế mà còn đối với các chính sách hiện thời.
Những nghiên cứu của giáo sư Friedman về sự trễ của các chính sách kinh tế đáng được công nhận là một trong những đóng góp lớn nhất của ông. Chính giáo sư Friedman đã lập ra việc biểu thức hóa quan sát- quyết định những ảnh hưởng của sự trễ vốn trước đây khá bị xao lãng lại là những vấn đề cư bản để tính toán chính xác thời điểm cho ổn đinh hóa các chính sách trong tiến trình một chu kì kinh doanh. Giáo sư Friedman đã chỉ ra rằng sự trễ dài hạn và biến đổi gắn liền với những thay đổi trong cung tiền có thể gây nên tình thế mất ổn định. Những kết luận kinh tế chính trị được bàn luận một cách sâu sắc của ông được rút ra từ những quan sát này phát biểu rằng chính sách tiền tệ cần được đơn giản hóa và ít tham vọng hơn để đạt được mục đích giữ cho tốc độ cung tiền trong dài hạn ổn định. Trong những năm gần đây, quan điểm này đã được một số ngân hàng trung ương công nhận tại một số mức độ nào đó. Giáo sư Friedman bấy giờ đã bày tỏ quan điểm của ông tại các cuộc bàn luận khoa học thuộc các lĩnh vực khác về nguyên nhân gây ra lạm phát. Quan điểm này liên quan đến tình trạng rườm rà trong việc tăng lương và mức giá. Giáo sư Friedman là người đầu tiên chỉ ra giả định thịnh hành về một sự hòa hợp giản đơn giữa nạn thất nghiệp và tỉ lệ lạm phát chỉ giữ được như một hiện tượng tạm thời ; trong dài hạn (khoảng hơn 5 năm) sẽ không còn có hòa hợp như vậy. Theo học thuyết Friedman, mức thất nghiệp mà tại đó nằm dưới điểm cân bằng tự nhiên có thể gây nên một tỉ lệ tích lũy về mức giá và tiền lương tăng, chủ yếu vì sự kì vọng gây ra mất ổn định. Những trình bày về quyết định mức giá và tiền lương ngày đó trong nhiều phương diện quan trọng được xây dựng dựa trên những giả thuyết của Friedman về tầm quan trọng của kì vọng gây ra do lạm phát.
 |
|
Phần lớn những kết luận của Friedman về triển vọng của chính sách kinh tế dựa trên quan điểm tự do dân chủ của ông về tính xác thực và đặc điểm gắn liền của một nền kinh tế thị trường chức năng. Ngoài ra còn bắt nguồn từ quan điểm ngược lại của ông về khả năng của quyền lực chính phủ can thiệp vào thị trường, thông qua những chính sách tài chính và chính sách thường lệ nhằm đạt được mục tiêu công ăn việc làm đầy đủ hoặc mục đích hạn chế nhập khẩu quá nhiều. Nhưng đó không chỉ là một bài toán liên quan đến phương diện tự do chính trị và triết học. Ở nhiều điểm, giáo sư Friedman đã tiến hành các phân tích chặt chẽ về cách thức hoạt động của thị trường cạnh tranh. Đầu những năm 1950 giáo sư Friedman giữ vị tri tiên phong trong số những người đề xướng thiết lập một trật tự mới cho hệ thống tiền tệ quốc tế dựa trên tỉ giá hối đoái thả nổi. Giáo sư không những nghiên cứu vấn đề này về mặt lý thuyết mà còn thu thập những chứng cứ thực nghiệm để đánh giá một hệ thống như thế có chức năng như thế nào. Thực tế, giáo sư Friedman là một trong những người đầu tiên nhận thức và giải thích được tại sao hệ thống Bretton Woods, với tỉ giá hối đoái khá tự do, trước sau gì phải sụp đổ. Từ một quan điểm khoa học thuần túy đó, một trong những đóng góp quan trọng nhất của giáo sư Friedman là điều chỉnh của ông về lý thuyết tiêu dùng với giả thuyết về thu nhập cố định thay cho mức thu nhập hàng năm hiện hành là nhân tố quyết định tổng lượng cầu tiêu dùng. Đây là một điểm khác biệt nhất giữa thu nhập tạm thời và thu nhập cố định của các hộ gia đình, Giáo sư Friedman chỉ ra rằng về căn bản phần lớn thu nhập tạm thời được dành cho tiết kiệm nhiều hơn so với phần thu nhập cố định. Giáo sư Friedman đã kiểm tra kĩ lưỡng giả thuyết này bằng phương pháp thống kê toàn diện và thu được những kết quả thú vị.
Tác phẩm lớn mang tên “lịch sử tiền tệ nước Mỹ những năm 1867-1960” được coi là một trong những tác phẩm đồ sộ nhất cùng với những đóng góp đi đầu của ông. Trong đó ông đã cộng tác với một sử gia kinh tế. Những phân tích chi tiết với tài liệu thống kê lịch sử bao hàm toàn diện với một phạm vi rất rộng đều mang nhãn hiệu Friedman. Ít khi người ta cảm thấy như trong tác phẩm này một sự kết hợp hoàn hảo những miêu tả lịch sử chi tiết bao trùm các giai đoạn phát triển, những thay đổi về thể chế, những đóng góp của các chủ ngân hàng và chính khách, những đánh giá phê bình về nguồn tài nguyên cũng như những phân tích kinh tế sáng suốt tài liệu phức tạp trong bài toán này. Có lẽ người ta chú ý nhất là nghiên cứu giàu tượng hình và trọn vẹn của ông về vai trò chiến lược của chính sách do hệ thống dự trữ liên bang đặt ra trong việc gây ra cuộc khủng hoảng năm 1929 và làm cho cơn suy thoái sau đó thêm trầm trọng và kéo dài.
Giáo sư Milton Friedman xứng đáng được trao giải thưởng khoa học kinh tế tưởng nhớ Alfred Nobel năm 1976 vì những đóng góp tiên phong của ông cho phân tích tiêu dùng và lịch sử, lý thuyết tiền tệ, gồm có những theo dõi của ông về tính phức tạp của chính sách ổn định.
Ngọc Hân dịch
|