TRANG CHỦ BÀI ĐỌC NHIỀU NHẤT BẠN ĐỌC VÀ TÒA SOẠN ĐẶT VIETIMES LÀM TRANG CHỦ
Người quan sát Đối thoại Việt Tiếng gọi số phận Chuyên đề Tính cách Việt Nhiệt kế văn hoá Câu lạc bộ tỷ phú Khoa học giới tính Ngàn ô cửa thế giới
Tìm kiếm :
  

Chuyên đề kinh tế hiện đại:

Những ý tưởng kinh tế tráng lệ của thế kỷ 20 (Phần 4)
Thứ tư, 22/10/2008, 07:00 GMT+7

Nhìn nhận lại những ý tưởng kinh tế diệu kỳ đã từng đoạt giải Nobel về kinh tế những năm trước sẽ là những bài học bổ ích cho kinh tế hiện đại. Vietimes xin giới thiệu ý kiến của những người đã từng đọat giải Nobel kinh tế trong lịch sử.

Bài phát biểu của Giáo sư. Assar Lindbeck, Trường kinh tế Stockholm

Tâu hoàng đế, tâu hoàng thân, thưa toàn thể quý bà quý ông


Giáo sư. Assar Lindbeck

Một trong những đặc trưng nổi bật của sự phát triển kinh tế học trong những thập kỷ vừa qua là độ phát triển mạnh mẽ của các kỹ thuật phân tích có được với trợ giúp một phần của phương pháp toán học. Chúng ta có thể phân biệt hai nhánh của sự phát triển này.

Một nhánh là toán kinh tế, được thiết kế để trực tiếp đưa ra những ước lượng mang tính thống kê và thực nghiệm – với những học giả tiên phong trong lĩnh vực này là Ragnar Frisch và Jan Tinbergen, những nhà khoa học đã được nhận giải thưởng kinh tế tưởng nhớ Alfred Nobel năm 1969, giải thưởng do ngân hàng quốc gia Thụy Điển tài trợ.

Nhánh thứ hai tập trung theo hướng nghiên cứu lý thuyết đơn thuần và không đưa ra các mục tiêu về thống kê và thực nghiệm. Đây chính là lĩnh vực mà Giáo sư Paul Samuelson, học viện công nghệ Massachusetts, Hoa Kỳ, đã có những đóng góp to lớn và vì vậy hôm nay ông đã được trao giải Nobel trong lĩnh vực khoa học kinh tế.

Nói chung, đóng góp của giáo sư Samuelson lớn hơn bất kỳ nhà kinh tế học đương thời nào, ông góp phần phát triển các mặt phân tích chung và phương pháp trong khoa học kinh tế. Thực tế, ông đã viết lại một phần lớn của lý thuyết kinh tế. Ông cũng chỉ ra tính đồng nhất của các vấn đề và kỹ thuật phân tích trong kinh tế học, một phần do ứng dụng hệ thống phương thức tối đa hoá cho một loạt vấn đề trong kinh tế. Điều này có nghĩa những đóng góp của ông đã bao trùm nhiều lĩnh vực khác nhau. Nếu chúng ta cố gắng tóm lược các thành tựu nghiên cứu của giáo sư và đưa ra một ý tưởng cụ thể, thì cần thiết phải tự giới hạn ở một số ví dụ. Chúng ta có thể phân chia sự đóng góp của ông thành bốn phạm vi sau:

Phạm vi đầu tiên là phân tích lý thuyết động lực và ổn định. Đặc tính của lĩnh vực này là phân tích không giống như phân tích tĩnh, hạn chế ở các điểm cân bằng. thay vào đó là nhấn mạnh vào câu hỏi hệ thống kinh tế sẽ vận hành như thế nào ngoài điểm cân bằng và làm sao nền kinh tế phát triển từ thời kỳ này sang thời kỳ khác trong chuỗi các giai đoạn phát triển. cụ thể, những điều giáo sư làm là cụ thể hoá các điều kiện để hệ thống kinh tế ở trong tình trạng ổn định, có nghĩa là nó sẽ quay lại điểm cân bằng sau khi có sự xáo trộn. Ông đã nhận ra rằng các điều kiện để tạo tính ổn định thông thường đồng thời là các điều kiện có được từ các phân tích tĩnh, thông thường được gọi là các kết luận “chuẩn tắc” giống như kết luận rằng nếu cầu tăng sẽ làm cho mức giá cân bằng nâng lên. Thực ra, đây là một ứng dụng của “nguyên lý tương tác” nổi tiếng của Samuelson, nhờ đó ông đã tạo nên cầu nối giữa các phân tích tĩnh và động mà trước đó được coi là hai phương pháp phân tích riêng biệt.

Một phạm vi khác mà Giáo sư đã có những đóng góp to lớn là lý thuyết tiêu dùng và lý thuyết có liên quan gần gũi về chỉ số. Với những lý thuyết trước đó trong vấn đề này, người ta thường bắt đầu với giả thuyết là các hộ tiêu dùng có thể đưa ra được chính xác các lựa chọn ưa thích của mình đối với hàng tiêu dùng, với nghĩa rằng họ có thể đánh giá chính xác để đưa ra được các lựa chọn về các giỏ hàng hoá tiêu dùng. Trên cơ sở này, các định lý về hành vi tiêu dùng được rút ra từ phương pháp suy diễn bằng việc phân tích các tác động thay đổi, chẳng hạn như thu nhập và giá cả. Giáo sư tiếp cận ngược lại bằng cách chỉ ra các lựa chọn của người tiêu dùng dựa trên quan sát hành vi. Hộ gia đình, nói thẳng ra là thực hiện lựa chọn bằng chính hành vi của mình. Đây là điểm khởi đầu cho lý thuyết của Samuelson về “phát hiện lựa chọn ưa thích”, lý thuyết này đã cung cấp các công cụ hoàn thiện cho các phân tích về giả thuyết tiêu dùng. Các nghiên cứu quan sát thực nghiệm hành vi đã trở lên hiệu quả hơn khi kết hợp với các nghiên cứu lý thuyết.

Phạm vi thứ ba mà Samuelson đã có những đóng góp to lớn là lý thuyết về điểm cân bằng chung, trong đó ông nghiên cứu về sự tương tác giữa rất nhiều các biến khác nhau- nói chung tất cả giá và số lượng trong hệ thống kinh tế. Một số ví dụ về lý thuyết thương mại quốc tế có thể được sử dụng để chứng minh cho điều này có thể đưa ra một số ví dụ về lý thuyết thương mại quốc tế.

Một ví dụ đó là câu hỏi về lợi ích của thương mại quốc tế. Từ lâu người ta đã biết rằng trong một số điều kiện nhất định, thương mại quốc tế sẽ làm gia tăng thu nhập quốc gia của các quốc gia có liên quan. Ngoài ra ngoại thương sẽ dẫn tới tái phân bổ thu nhập giữa các quốc gia và kết quả là thực tế có một số quốc gia sẽ bị đặt vào tình trạng yếu thế hơn. Câu hỏi đặt ra ý nghĩa nhất là, liệu chúng ta có thể nói rằng một quốc gia có thể thu đươc lợi nhuận từ thương mại quốc tế? Những gì mà Samuelson làm là ông đã chỉ được đối với mỗi quốc gia cụ thể lợi ích thu được sẽ khấm khá hơn nhiều nhiều từ thương mại quốc tế cho dù có phải bù đắp hoàn toàn cho các quốc gia bị mất mát do thương mại quốc tế. Theo nghĩa này thì thương mại tự do tốt hơn bảo hộ. Trong việc phân tích hiệu ứng của thuế quan đối với sự phân bổ thu nhập, Ông và Wolfgang Stolper cũng đã chỉ ra rằng thuế quan sẽ nâng giá cả của hàng nhập khẩu, do đó làm tăng các hệ số thưởng cho các nhân tố sản xuất, những nhân tố này được tập trung chủ yếu vào việc sản xuất các mặt hàng được bảo hộ, trong khi đó hệ số thưởng cho các nhân tố khác sẽ giảm.




Ông cũng chỉ ra trong những điều kiện ở đó có sự cân bằng trong thương mại quốc tế về các nhân tố thưởng giữa các quốc gia tham gia thương mại quốc tế - được gọi là “Định lý cân bằng hệ số giá”. Ở nội dung này, Giáo sư đã bổ sung cho nghiên cứu của Eli Heckscher và Bertil Ohlin.

Cuối cùng, phạm vi thứ tư mà ông đã có đóng góp nổi bật là lý thuyết về vốn tư bản. Một điểm phê bình đối với lý thuyết vốn truyền thống là nó dựa trên giả định rằng có thể xây dựng khái niệm về một tập hợp nguồn vốn – nghĩa là tập hợp giá trị bằng tiền của toàn bộ hàng hoá trong xã hội. Bấy giờ, cùng với Robert Solow, Ông chỉ ra rằng có thể phát triển một lý thuyết lôgích về tư bản và có thể đưa ra giá trị cụ thể của tư bản cho dù không cần thiết phải sử dụng khái niệm về vốn tư bản.

Một đóng góp khác của giáo sư về lý thuyết tư bản là đã chi tiết hoá các điều kiện cho một nền kinh tế hiệu quả qua thời gian. Chúng ta có thể chỉ ra nguyên lý nổi tiếng của ông “nguyên lý trạm thu phí”, nguyên lý chỉ ra những điều kiện để có được sự phát triển tối đa và chỉ ra được một nước có thể phải trả giá để lựa chọn một hướng phát triển được đặc trưng bằng tối đa hoá tốc độ phát triển – như là “trạm thu phí” - tỉ lệ giữa các thành phần sản xuất hoàn toàn khác với tỉ lệ mà chúng ta bắt đầu hoặc đối với những tỷ lệ mà cuối cùng chúng ta mong đạt được.

Và bây giờ xin chuyển tới giáo sư Samuelson. Có lẽ là hơn bất cứ ai khác, ngài đã chỉ ra lợi ích của việc chính thức hóa các phân tích kinh tế. Nhờ đó, thực tế ngài đã tạo ra phong cách cho nhiều thế hệ các nhà kinh tế vài thập kỉ qua. Cho dù phần lớn các tác phẩm của ngài có mức độ trừu tượng hóa cao, ngài đã giải quyết các vấn đề kinh tế và xã hội trong thế giới thực. Ý nghĩa liên quan trong các khám phá của ngài thực tế có thể thấy trong mọi lĩnh vực mà ngài đã nghiên cứu: trong việc xây dựng lý thuyết tiêu dùng dựa trên hành vi quan sát được, dựa trên cơ sở học thuyết của ngài “phát hiện lựa chọn ưa thích”, trong việc biểu thức hóa các giả thuyết tư bản; trong việc phân tích các quá trình động lực học và sự ổn định ngoài điểm cân bằng, trong việc phân tích các chu kì kinh doanh bằng một mô hình kết hợp với gia tốc số nhân; trong việc nghiên cứu các tập hợp hàng hóa bằng phân tích các trạng thái cân bằng chung; trong việc phân tích tăng trưởng tối đa, nghiên cứu việc phân bổ tiêu dùng giữa các thế hệ bằng mô hình vay nợ tiêu dùng của ngài, và phân tích lợi ích thu được từ thương mại và hiệu ứng của thuế quan đối với sự phân bổ thu nhập. Vì thế chắc chắn có thể nói rằng, trong nhiều lĩnh vực mà ngài đã nghiên cứu, ngài đã trình bày một hệ thống kinh điển chứ không chỉ là định rõ nữa dựa trên học thuyết kinh tế Keynes tân cổ điển và hiện đại.

Thật là vinh dự khi truyền tới ngài những lời khen ngợi và chúc mừng của học viện khoa học hoàng gia, và mời ngài nhận từ tay hoàng đế giải thưởng khoa học kinh tế năm 1970 tưởng nhớ Alfred Nobel.

Diễn văn của giáo sư Paul A. Samuelson tại đại lễ Nobel ở Stockolm 10/12/1970


Tâu hoàng đế, tâu hoàng thân, thưa các quý bà quý ông.

Theo tôi ước mơ của bất cứ học giả nào sẽ trở thành hiện thực với giải thưởng này. Giải Nobel chỉ biết đến trong các môn khoa học cứng nhắc như văn học, Nobel vì hòa bình. Tưởng tượng rồi đây môn kinh tế học của tôi- một ngành nghệ thuật lâu đời nhất nhưng cũng là một môn khoa học mới nhất được vinh danh do ngân hàng Thụy Điển tài trợ cho giải thưởng tưởng nhớ Alfred Nobel. Nếu có thể tôi xin phép được thay mặt cho các bạn đồng nghiệp trong giới tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới quỹ giải thưởng Nobel đã giúp cho bộ môn kinh tế của chúng tôi được góp mặt trong đại lễ này.

Giải thưởng kinh tế năm ngoái đã đặt ra một tiền lệ khó khăn, có thể nói là không thể để có thể được duy trì. Theo quy luật giảm dần về sau, đó cũng là điều bình thường. Theo biệt ngữ kịch vui Mỹ, giáo sư Frisch and Tinbergen là “vai diễn khó theo”. Nhưng trái lại cuộc đời tôi đã tiếp theo những vị học giả vĩ đại và các vị cố vấn chính sách vĩ đại ấy.

Giờ tôi nên chuyển qua màn cảm ơn chào hỏi. Chúng ta đều đã nghe giáo sư Tiselius nói rằng ông ấy không biết đưa ra lời khuyên làm thế nào để đạt giải Nobel. Tôi sẽ chỉ cho các bạn biết. Điều đó rất dễ.

Điều đầu tiên các bạn phải làm là có thầy giáo giỏi. Vì các nhà kinh tế học có mặt tại đây, cho phép tôi được nhắc đến một số nhân vật nổi tiêu biểu đã giúp đỡ tôi trong lĩnh vực này. Nếu các bạn có các thầy giáo Jacob Viner và Frank Knight và Paul Douglas, rồi sau đó may mắn được học với Joseph Schumpeter, Wassily Leontief, Gottfried Haberler, và Alvin Hansen – thì bạn đã đáp ứng được điều kiện cần thiết đầu tiên cho bài toán này. Thứ hai bạn cũng phải may mắn có được những người đồng sự, cộng tác viên và nghiên cứu sinh xuất sắc. Nếu bạn có cơ hội được làm việc với những người như Lloyd Metzler, Robert Solow, và James Tobin, thì bạn đã thỏa mãn được điều kiện thiết yếu thứ hai- nhưng vẫn chưa phải là những điều kiện đủ.

Thứ ba, bạn phải có sinh viên giỏi. Tôi có thể sẽ dài dòng khi đề cập đến những cái tên của học viện công nghệ Massachusetts, nhưng tôi xin chỉ nêu tên mở đầu, tên đệm và tên cuối cùng theo bảng chữ cái với các tên tuổi Lawrence Klein, Robert Mundell, và Joseph Stiglitz. Tuy nhiên như thế chúng ta mới chỉ đi được ba phần năm chặng đường.

Điều kiện thứ 4 và cũng là một điều kiện quan trọng của học thuật là bạn phải đọc tác phẩm của các nhà chuyên môn xuất sắc, trong hội trường này tôi xin được thứ lỗi khi nêu tên các vị Bertil Ohlin, Gunnar Myrdal, Erik Lundberg và Ingvar Svennilson - và, tất nhiên, Gustav Cassel, Erik Lindahl và Knut Wicksell.

Bốn phần năm điều kiện cần thiết để thành công trong con đường học vấn đã được liệt kê. Để tôi không làm gián đoạn màn khiêu vũ của các bạn, cho phép tôi nhanh chóng chỉ ra điều kiện cần thiết cuối cùng bổ sung những điều kiện đủ cho một giải pháp trọn vẹn. Yếu tố cuối cùng, tất nhiên đó là may mắn.

Cuối cùng tôi xin công nhận rằng tôi cảm thấy khi vinh danh tôi hội đồng viện khoa học hoàng gia thực tế đang khen ngợi tất cả các nhà khoa học cùng thế hệ với tôi đã nỗ lực rất nhiều trong cùng lĩnh vực này.

Bài phát biểu của Paul A. Samuelson dành cho các sinh viên tại buổi đại lễ Nobel ở Stockolm 10/12/1970.

Tâu hoàng đế, hoàng thân, thưa toàn thể quý vị




Tôi có mặt tại đây tối nay đáp lại những lời khen ngợi của các bạn là một sự chuẩn bị mang tính thủ tục dân chủ: vì tôi dị ứng với các ủy ban hoặc tôi là một vị giáo sư quá đãng trí, những người đạt giải khác đã họp và chọn ra một người diễn giải mà không có tôi. Vì thế họ chỉ định tôi làm việc này. Tuy vậy, tôi hi vọng các bạn sẽ không cảm thấy ớn lạnh với việc một nhà kinh tế trình bày tiếng nói của các bạn tuy rằng chao ôi trong đó có thể bộc lộ những lợi thế so sánh của anh ta. Tôi thốt lên chao ôi vì chỉ có một quy luật trong nghệ thuật đàm phán là quy luật của Gresham nhờ đó bài nói chuyện dở trở thành câu chuyện hay.

Thay mặt các bạn đồng nghiệp, chúng tôi cảm ơn các bạn những sinh viên đã tham gia trong buổi lễ này. Tôi đảm bảo với các bạn rằng chúng tôi đang ban cho các bạn món quà tuyệt vời nhất- rất nhiều bài toán khó cho tới nay vẫn chưa được giải quyết.

Cuối cùng tôi xin được thứ lỗi khi cắt ngang buổi lễ long trọng này. Tôi nói với các bạn bằng tất cả lòng mình. Nếu Alexander Solzhenitsyn đã có mặt ở đây để nói từ trái tim, tất cả nhiệt huyết của ông ấy, sẽ tốt hơn nhiều cho tất cả chúng ta, toàn thể nhân loại và tôi dám chắc mỗi nơi trên trái đất đều không phải là ngoại lệ. linh hồn của ông ấy vẫn bay lượn trong buổi lễ tuyên dương tối nay. Xin cảm ơn các bạn.

Một điểm đáng chú ý là việc nghiên cứu kinh tế học của tôi là do một sự tình cờ. Trước khi tốt nghiệp phổ thông, tôi như được hồi sinh vào lúc 8.00 qm, 2.1.1932 khi lần đầu tiên tôi bước chân vào giảng đường trường đại học Chicago. Bài giảng ngày đó nói về học thuyết của Malthus rằng dân số loài người sẽ sinh sôi này nở như thỏ cho tới khi mật độ trên một mẫu đất làm giảm tiền lương của họ tới mức tối thiểu chỉ sống vừa đủ, tại đó tỉ lệ sinh bằng tỉ lệ tử. Hiểu tất cả phương trình phân biệt đó quá dễ đến nỗi tôi lầm rằng mình đang bỏ lỡ cơ hội kiếm lợi từ một số điều thần bí.

May mắn ư? Đúng. Và cả cuộc đời tôi đã ngồi đúng nơi, đúng lúc. Chicago ngày đó là trung tâm hàng đầu về nghiên cứu kinh tế vĩ mô tân cổ điển. Nhưng tôi không biết rằng lý do tôi tới đó đơn giản là vì trường đại học Chicago gần trường cấp ba và gần nhà tôi. Sau đó tôi được mời rời khỏi trung tâm Chicago, được quyền lựa chọn tiếp tục nghiên cứu sinh ở Havard hay Colombia. Những người thấy hướng dẫn đầy tôn kính của tôi ở trường Chicago Frank Knight, Jacob Viner, Henry Simons, Paul Douglas, không do dự đều nói rằng “chọn Columbia” nhưng không ai mù quáng nghe theo lời khuyên của người lớn, tôi đã chọn Havard vì dự tính nhầm lẫn của mình với ước mong đó là một ốc đảo nhỏ bé có các ngọn đồi xanh mát.

Một phần cảm ơn tới những tai họa Adolph Hitler, nơi tạm trú của tôi những năm 1935-40 ở Havard trùng khớp với thời kì phục hưng kinh tế được tiến hành bởi Joseph Schumpeter, Wassily Leontief, Gottfried Haberler, và “Keynes Mỹ" Alvin Hansen.(vả lại về phía tôi, tôi có thể trở thành học trò ruột duy nhất của học giả Edwin Bidwell Wilson, chính ông đã từng là học trò ruột duy nhất của nhà vật lý xuất sắc nhất đại học Yale Willard Gibbs. Nghiên cứu sinh Havard thuộc khoa mới mở của Havard đương thời đều ngang tài ngang sức với nhau. Richard Musgrave, Wolfgang Stolper, Abram Bergson, Joe Bain, Lloyd Metzler, Richard Goodwin, Robert Triffin, James Tobin, Robert Solow,...tất cả họ đều những người bạn của tôi, là những ngôi sao của thời đại những năm 1950-2000 trong lĩnh vực kinh tế. Havard đã sinh ra chúng tôi, vâng đúng vậy. Nhưng như tôi đã nói rất nhiều lần, chúng tôi làm nên Havard.

Công tước vùng Wellington từng nói: cuộc chiến Waterloo đã chiến thắng trên đấu trường của Eton”. Tôi có thể nói rằng “chiến tranh thế giới thứ hai đã chiến thắng trong các phòng họp hội nghị của Cambridge, Princeton, và Los Alamos."

Có lẽ nhân tố có vai trò quan trọng hơn yếu tố may mắn là một điều thiết thực rằng kinh tế học dường như là dành cho tôi. Lĩnh vực này sau đó đã đưa một ứng dụng toán học vào cả lý luận và khoa học thống kê. Là một đứa trẻ có tài năng sớm phát triển, tôi từng vượt qua rất xuất sắc các kì khi sát hạch chỉ số IQ về giải quyết vấn đề và logic. Vì vậy nếu kinh tế học đã được sinh ra dành cho tôi, có thể nói rằng tôi sinh ra là để dành cho kinh tế học

Năm 1932 là điểm bắt đầu của cơn đại suy thoái. Vào lúc ấy đó là thời điểm không thuận lợi cho thị trường lao động. Đúng ngay lúc tôi vừa hoàn thành khóa đào tạo cao cấp. Cuộc chiến tranh thế giới thứ hai đến, kéo theo năm mươi năm bùng nổ số lượng tuyển sinh của khoa học kinh tế. Thế hệ của tôi đã có một hướng đi mạnh mẽ sau khi chiến tranh kết thúc. Người thầy nổi tiếng của tôi đã trở thành giáo sư chính ngay sau năm 1940. Wunderkinds ở thế hệ của tôi có thể được phong tước giáo sư khi 30 tuổi. Bên ngoài cuộc sống ẩn dật, các nhà kinh tế được các chính phủ, các tập đoàn, các thương nhân phố Wall, và các nhà xuất bản săn tìm.

Người ta bắt đầu hiểu được ý nghĩa tiểu sử trong bài nghiên cứu của một học giả. Trước khi vào đại học, tôi chưa bao giờ giở cuốn bản thảo của Adam Smith trong giá sách của cha tôi. Nhưng tôi trải nghiệm trực tiếp, vào lúc tôi còn là một thanh niên, sự biến mất của nền kinh tế phi mã, việc bắt đầu có hệ thống ống nước trong nhà và đèn điện. Sau đó sóng radio truyền trong không gian và phim truyền hình xuất hiện.

Quan trọng hơn là được tận mắt nhìn thấy thời kì phát đạt trong cuộc chiến ngày 1 tháng 9 tại Mỹ. Những công nhân Đông Âu, Ấn Độ vui mừng khôn xiết khi có thể làm việc luân phiên 12h, bảy ngày trong tuần. Tôi và cả gia đình tôi đã thấy được một chặng đường khó khăn, tình trạng suy thoái kế tiếp thời kì phát đạt như bầy chim sẻ bay theo chú ngựa. và khi mới 10 tuổi tôi sống ở Miami Beach, Florida, lần đâu tiên tôi cảm nhận được tính bấp bênh của bất động sản là thế nào. và nó sẽ như thế nào nếu ảo tưởng vỡ tung.

Tất cả điều đó đã làm tôi sẵn sàng đối mặt với cơn đại suy thoái và những cuộc lạm phát trong chiến tranh. Tài năng được huấn luyện ở Chicago kiên quyết chống lại cuộc cách mạng của học thuyết kinh tế Keynes; nhưng lẽ phải chiến thắng truyền thống và giáo điều.

Sau tất cả những sự kiện đó, tôi nhìn lại một phần chín thập kỉ đã qua trong sự nghiệp thuộc lĩnh vực kinh tế học dài đằng đẵng của mình, tôi nhận ra tất cả những tình tiết đầy may mắn đó phải được hiểu là tương phản với bối cảnh các xu hướng chủ yếu trong lịch sử kinh tế. may mắn của tôi là có một chỗ ngồi trên khán đài để từ đó có thể quan sát phần lớn lịch sử kinh tế cơ bản của một thế kỉ. đó là một niềm hạnh phúc trong thời kì mở đầu các cuộc cách mạng vĩnh viễn thay đổi kinh tế học.

Tôi luôn luôn phải trả giá quá cao để làm những gì chỉ là niềm vui thích.

Ngọc Hân

Ý kiến của bạn về bài viết này
  Tắt Telex Vni
Họ và tên:   
Địa chỉ:  
E-mail:   
Điện thoại:   
File gửi kèm:    (Max 100KB)
File gửi kèm:    (Max 100KB)
File gửi kèm:    (Max 100KB)
Tiêu đề:   
Nội dung:   
   
CÁC TIN KHÁC
Nước Mỹ được lợi từ Đại khủng khoảng?  (21/10/2008)
Đàn bà dễ có “10 tay”  (20/10/2008)
Iceland: Càng khủng hoảng, càng "sướng"  (20/10/2008)
Bài 3: Ai được lợi khi giá thức ăn quá đắt?  (17/10/2008)
Nhân viên hạnh phúc thì ông chủ cũng hạnh phúc  (17/10/2008)
Nhân tố nào tạo ra những chủ nhân của giải Nobel? (Phần cuối)  (16/10/2008)
Châu Á: “Xây tường thành” đón bão (Phần II)  (16/10/2008)
Nhân tố nào tạo ra những chủ nhân của giải Nobel ? (Phần I)  (15/10/2008)
Nhà báo chính trị quan trọng nhất của Mỹ với giải Nobel kinh tế 2008  (14/10/2008)
Việt Nam đã có nền kinh tế sáng tạo?  (14/10/2008)