|
Bước đầu làm quen với toán kinh tế
Trong những năm 1930, Jan đã phát minh ra mô hình kinh tế vĩ mô đầu tiên. Theo mô hình này, trọng tâm của phép phân tích kinh tế không còn là mối quan hệ giữa các loại hàng hóa riêng biệt với mức giá. Thay vào đó, nó được chuyển thành mối quan hệ cụ thể giữa tổng thể kinh tế như tổng thu nhập, tiêu dùng và đầu tư. Tác phẩm của ông bao gồm những quan sát thống kê về các khái niệm được dựa trên cơ sở lý thuyết, cụ thể là kinh tế lượng sử dụng những con số cụ thể. Sau đó ông được khối liên minh các quốc gia mời phân tích nền kinh tế Mỹ như ông đã từng thực hiện với nền kinh tế Hà Lan. Việc này đã dẫn đến các nghiên cứu gây chú ý của ông năm 1936, trong đó bước đầu ông đã đưa toán và khoa học thống kê vào để xác minh các học thuyết về sự lên xuống khác nhau tồn tại trong nền kinh tế trên toàn thế giới. Trong số các nghiên cứu khác, nghiên cứu này đặt ra câu hỏi: có phải chính đầu tư vượt mức và tiêu thụ dưới mức là nguyên nhân gây nên sự sụt giá? Hay là do những nguyên nhân khác? Việc đối mặt với các sự kiện là cần thiết để có thể tìm ra câu trả lời.
 |
| Tuy nhiên vào ngày đó đây vẫn là một phương pháp chưa phổ biến- khi ấy chỉ là những chiếc hộp ống với các số đo mà không có các phân tích kinh tế được mô tả dựa trên cơ sở lý thuyết. Mô hình của Jan đã giới thiệu về toán kinh tế, một sự kết hợp giữa toán học, học thuyết kinh tế và khoa học thống kê. Trong mô hình này, các học thuyết kinh tế có nhiệm vụ biểu thức hóa các giả thuyết, và ngược lại các giả thuyết kinh tế được tạo thành các mối quan hệ toán học rồi sau đó được xác minh nhờ các dữ liệu thống kê.
Đối với Jan, toán kinh tế là thiết yếu trong nghiên cứu kinh tế, một khả năng nhìn thấy mà ngày đó và cho đến tận bây giờ vẫn là đề tài gây nhiều tranh cãi. Một phép loại suy sẽ định rõ tốt nhất vấn đề này. Chắc chắn là một thành phố có thể đi đến bằng xe lửa thì cúng có thể đi bộ đến đó được. Khi ứng dụng vào nghiên cứu kinh tế, con người sẽ thu được những kết quả giống nhau, dù sử dụng toán học hay ngôn ngữ thông thường, nhưng sử dụng toán học sẽ có hiệu quả hơn. Những luận cứ chống lại mô hình của Jan có nội dung kiểu như: coi là sử dụng toán học cũng giống như đi một chuyến tàu đêm. Chuyến tàu sẽ chạy qua vùng lãnh thổ mà bạn không thể nhìn thấy trong bóng đêm và cuối cùng bạn sẽ dừng nhầm ga. Dịch sang ngôn ngữ của kình tế học câu nói đó có nghĩa là: Bạn có thể chưa xét đến ý nghĩa thực nghiệm của mỗi phương trình và do đó sẽ đi đến kết luận sai. Nhưng sau đó, Jan đáp ngược lại, giả sử rằng không có chuyến tàu ngày?
Trong một bài diễn thuyết ở Hà Lan, Jan đặt ra câu hỏi: các định lý kinh tế có thể được chứng minh không nếu không ứng dụng toán học? Không giống như trong vật lý, các căn nguyên kinh tế không thể bị tách rời và phân tích trong thực nghiệm. Tiền lương quyết định mức giá, mức giá quyết định lượng hàng bán, lượng hàng bán quyết định nhân công và nhân công lại quyết định tiền lương. Đó là một thiếu sót của ngôn ngữ tự nhiên mà những sự phụ thuộc lẫn nhau này không thể bàn luận được nếu thiếu ứng dụng toán học. Đoạn cuối bài luận văn đó ông viện dẫn một kì thi trong đó sinh viên phải phải giải các bài toán bằng chuối lý luận lời mà rất dễ giải quyết nếu sử dụng toán học sơ cấp. Quả thực, với Jan là một tình huống buồn cười, dù nó có thể được hiểu là một câu đố vui. Ông so sánh tình huống này với hoàn cảnh kinh tế chính trị và hi vọng trong tương lai sẽ không cần phải giải quyết các bài toán kinh tế theo kiểu thách đố đó nữa. Một ngày nào đó, sẽ có những nhà toán kinh tế được đào tạo đầy đủ về kinh doanh và chính trị để có thể hiểu và đánh giá đúng tầm quan trọng của nó trong phân tích kinh tế.
Phê bình của John Maynard Keynes
Jan chịu đựng những lời bình phẩm gay gắt nhất từ người mở đầu cuộc cách mạng kinh tế vĩ mô trong kinh tế học- John Maynard Keynes. Keynes chống đối phương pháp đa tương liên mà Jan sử dụng để định lượng ý nghĩa tương xứng của các yếu tố khác nhau gây nên các chu kì kinh tế. Ông ấy cho rằng phương pháp này chỉ là trò đánh lừa vì nó không chứa các biến số đặc biệt là những biến số không thể đo được chẳng hạn như các nhân tố xã hội, tâm lý và chính trị. Vậy còn các kỳ vọng và vai trò của chúng trong quyết định đầu tư thì sao? Tinbergen xác nhận một biến số dư đả động đến các ảnh hưởng khác sẽ liên quan đến vấn đề này, và các kì vọng có thể luôn được căn cứ vào quá khứ và như vậy thì có thể bị ngoại suy. Wittily, Keynes đòi hỏi phải có một thí nghiệm. Ông nhớ lại rằng bộ bảy mươi bản dịch của kinh cựu ước đã được cất giữ trong những căn phòng riêng biệt với cùng nguyên bản tiếng Hê-b- rơ và được xuất bản với bảy mươi bản dịch y hệt nhau. Ông tự hỏi đây có phải là một tình cờ kì diệu khi 70 thể đa tương liên được cất giữ tương tự với cùng tài liệu thống kê?
Keynes đánh giá phương pháp của Jan là không thuyết phục vì tài liệu và mối tương quan được mô tả trong mô hình không thể định lượng, biến thiên và không. Hồi đó một bài phê bình có tiếng vang từ những người được gọi là người Úc hiện đại, trong đó người bạn đồng nghiệp của Tinbergen Hayek là một ví dụ tiêu biểu. Ấy thế mà, Tinbergen đã nắm tay Hayek, giám đốc viện kinh tế Úc với sự yêu mến kính trọng. Trong bài diễn thuyết đạt giải Nobel Jan Tinbergen thừa nhận có thể Keynes đã đúng về điều đó nhưng ông ấy chưa bao giờ dự đoán thành công các dao động lên xuống trong hoạt động đầu tư kinh doanh. Sau chiến tranh, mối quan tâm của Jan đã chuyển sang lĩnh vực kinh tế phát triển. Ông quan tâm nhiều hơn về cấu trúc của nền kinh tế thế giới chứ không phải sự dao động của nó.
 |
|
John Maynard Keynes
|
Lời bình luận cuối cùng của Keynes về phương pháp của Jan, ngay trước chiến tranh thế giới thứ 2, đã kết thúc cuộc tranh cãi. Ông nói rằng dù ông đánh giá cao con người của Jan, nhưng vẫn không đồng ý rằng thuật giả kim được trình bày bằng phương pháp thống kê của Jan đủ chín muồi để trở thành một ngành khoa học. Ông tiếp tục nhưng Newton, Boyle và Locke đều tốn thời gian với thuật giả kim vì thế hãy cứ để cho Jan tiếp tục.
Nikolaas Tinbergen và các đồng nghiệp trong giới y khoa
Những chỉ trích đối với tác phẩm của Jan diễn ra từ giai đoạn đầu trong sự nghiệp của ông. Điều ngược lại xảy ra với Nico- tác phẩm mà ông đạt giải Nobel là không thể bác được, sự bất đồng với đồng nghiệp của ông xảy đến muôn hơn. Khi Jan trình bày bài thuyết trình đạt giải của mình, toán kinh tế đã được công nhận vững chắc theo xu hướng kinh tế và ngày nay nó vẫn được thế giới công nhận là một điểm chuẩn để kiểm tra kết quả của các chính sách kinh tế khác nhau, hạ bệ những dự đoán trước đó của Keynes. Nhưng những điều mà Nico nói trong bài thuyết trình đạt giải biến ông gần như thành một trò cười trong giới y học. Trong bài thuyết trình đó, Nico đề cập đến vấn đề của bệnh tự kỉ, nghĩa là một đứa trẻ không có khả năng liên hệ với mọi người và mắc phải tình trạng đó từ tuổi ấu thơ. Ông xác nhận rằng có thể khôi phục trẻ tự kỉ về trạng thái bình thường bằng cách thiết lập một mối quan hệ mẹ con vững chắc; bằng cách ấy thừa nhận rằng chứng tự kỉ ở trẻ nhỏ là do mối liên hệ giữa mẹ và con không được thiết lập và giữ vững.
Tuy nhiên đây không phải phạm vi nghiên cứu mà ông đạt giải Nobel. Ông nghiên cứu nó để phục hồi và phát triển ngành sinh vật học về xử sự của các loài động vật: phong tục học. Tác phẩm đầu tiên của ông đề cập tới sự định hướng của chim đưa thư. Ông chỉ ra tầm quan trọng của các tín hiệu thị giác cho phép chim cái, dù có các kiểu tổ khác nhau nhưng vẫn trở về đúng tổ của mình.
Ông nổi tiếng với chứng minh hiệu ứng chim ưng/ngỗng. Tác phẩm của ông giải thích cư xử của chim con để tự bảo vệ mình: khi một con ngỗng bay qua đầu chim con sẽ không có bất cứ phản ứng nào nhưng nếu đó là một con diều hâu nó sẽ thu mình lại như thể để tự chống đỡ hiểm nguy. Ban đầu phản ứng này được coi là một khả năng bẩm sinh nhưng ngày nay người ta chứng minh là do học được. Mối liên hệ giữa tác phẩm trước và các học thuyết sau đó của ông về bệnh tự kỉ là rõ ràng. Khi nói rằng trẻ tự kỉ không thể học được và cuộc sống của chúng là phụ thuộc hoàn toàn cho thấy sự thiếu hiểu biết về vấn đề này, theo Nico vì ta vẫn chưa biết nguyên nhân gây bệnh tự kỉ. Những gì ta có là một đống thông tin rời rạc để tìm kiếm một giả thuyết. Thực tế, mọi dự đoán tiêu cực không ngoài những trình bày về nỗ lực thất bại trong quá khứ. Theo ông, đánh giá của các chuyên gia không thể có căn cứ vì họ không thể biết được tương lai thế nào. Ông tiếp tục, “và tương tự liệu có đúng không khi nguyên nhân gây bệnh dịch tả, đậu mua và nhiều bệnh khác đã được tìm ra, nhưng chúng cũng vẫn chưa chữa trị được?”
Điểm mấu chốt trong nghiên cứu dựa trên phong tục học của Nico về động vật có ý thức gợi lại tác phẩm trước đó của ông về phong tục học: công việc theo dõi quan sát khó nhọc và liên miên động vật và con người trong môi trường sống tự nhiên của chúng. Sở thú và các bảo tàng lịch sử tự nhiên luôn làm ông chán ngắt. Cha mẹ và những người khác để hết tâm trí vào việc trông coi và dạy dỗ trẻ tự kỉ hàng ngày, còn có các chuyên gia phong tục học vẫn luôn nghiên cứu về bọn trẻ trong môi trường sống chúng. Đó là nhóm chuyên gia đầu tiên ủng hộ ông. Nico trình bày một giả thuyết đáng tin cậy và kế hoạch điều trị đây triển vọng. Với ông, thích nghi là nguyên tắc cơ bản và tự kỉ là hậu quả của thiếu cân bằng cảm xúc. Ngược lại với xư hướng chủ đạo, đó không phải kết quả của hoạt động truyền tín hiệu. và gen di truyền cũng không phải nguyên nhân gây bệnh.
Kết luận
Trong phần mở đầu ta đã đặt ra câu hỏi: bản tính tự nhiên hay quá trình giáo dục nuôi dưỡng? Cả hai anh em với hai bản tính hoàn toàn khác biệt dường như sao lại y hệt số phận của nhau. Nico mạo hiểm không hề có tính trầm lặng và ham học của anh trai Jan. Mặc dù vậy cả hai đều được đền đáp cho những cố gắng của mình, theo thứ tự khác nhau. Họ có chung một số nhân tố: gen và sự giáo dục của gia đình khuyến khích tư tưởng độc lập và ham hiểu biết. Và tất nhiên họ nhận được sự cổ vũ giống nhau từ gia đình để làm những việc họ thích nhất và thực hiện xuất sắc những điều đó. Mỗi người đều xứng đáng nhận được sự cổ vũ lớn nhất cho các lĩnh vực của họ, bất kể người ta đã bàn cãi những gì.
Ngọc Hân
|