 |
|
"Tính tự chủ và khả năng nhạy bén trong kinh doanh không thể thiếu đối với một nhà lãnh đạo doanh nghiệp" - Ảnh: Việt Cường
|
Phóng viên (PV): Thành đạt trong lĩnh vực kinh doanh công nghệ, nhưng được biết anh được đào tạo về ngoại ngữ và ước mơ là làm một nhà ngoại giao, vậy lý do nào để anh có sự chuyển hướng như vậy?
Nguyễn Trọng Hải Hoàng (NTHH): Tôi học ngoại ngữ nhưng thực tế ngay tại thời điểm đó tôi đã thích kinh doanh. Sau tôi nhận thấy rằng ngoại ngữ chỉ là một công cụ chứ là một phương tiện hành nghề thì nó rất hạn chế. Cho nên tôi học MBA ở nước ngoài rồi quyết định kinh doanh công nghệ
Tôi không chuyên sâu về công nghệ vì tôi cũng không phải là người của công nghệ mà chỉ là một người kinh doanh đơn thuần. Có thể nói trong các công ty làm công nghệ thì thường có 2 "trường phái": một là người xuất thân từ công nghệ và sau đó thì họ làm quản lý và kinh doanh. Tôi thì lại thuộc về trường phái thứ hai là làm về kinh doanh và tình cờ có mối nhân duyên với công nghệ. Tôi nghĩ rằng, cả 2 trường phái này đều phải tìm tòi học hỏi: công nghệ thì tìm tòi, học hỏi về quản lý, kinh doanh và ngược lại. Ngoại ngữ có một vai trò rất quan trọng trong đó. Những khái niệm, những thông tin thị trường thì đa số bằng ngoại ngữ hơn là tiếng Việt. Có ngoại ngữ cũng là điều kiện thuận lợi để mình học hỏi.
PV: Một người ngoại đạo như anh khi khởi nghiệp thì khó khăn chắc không tránh khỏi?
NTHH: Đúng vậy, đó là khó khăn về về tài chính và khó khăn về kỹ thuật trong việc triển khai các dự án thời kỳ đầu.
Năm 2003 tôi cùng mấy anh em mở một công ty về thương mại, đến cuối năm 2004 thì mở một công ty về công nghệ và đầu năm 2005 thì chúng tôi hoạt động hoàn toàn trong lĩnh vực công nghệ.
Lúc đó tôi là giám đốc kinh doanh và một người bạn của tôi là giám đốc điều hành. Cuối năm 2004 đầu năm 2005 thì thị trường tài chính của Việt Nam đi lên, đặc biệt là ngành ngân hàng, chứng khoán. Nền kinh tế Việt Nam cũng có 3 lĩnh vực phát triển mạnh mẽ là tài chính ngân hàng, bưu chính viễn thông và dầu khí. Ba ngành này đóng góp rất nhiều cho GDP, nhưng nền tảng công nghệ trong các ngành đó còn thấp. Do đó, tôi đi vào Công nghệ Thông tin (CNTT)
PV: Thời điểm đó nền CNTT ở Việt Nam còn kém phát triển. Với bối cảnh như vậy thành lập doanh nghiệp để kinh doanh trong lĩnh vực này có phải là mạo hiểm?
NTHH: Đúng là nền CNTT ở Việt Nam đi sau các nước trên thế giới rất nhiều. Tôi thường tham dự các sự kiện của IDG và thấy các nhà cung cấp chủ yếu giới thiệu về phần cứng, máy chủ rất sơ khai. Thời điểm đó, các ngân hàng đầu tư cho CNTT còn rất ít. Ở đa số các ngân hàng thì hệ thống dữ liệu nằm trong 3, 4 máy chủ đặt trong góc phòng không có người quản lý, nhận thức về CNTT của các ngân hàng còn thấp Và lúc đó tôi nghĩ làm thế nào để đội ngũ lãnh đạo nhận thức được tầm quan trọng của CNTT trong ngân hàng? Và đó cũng chính là điểm thuận lợi của công ty chúng tôi khi tham gia vào một lĩnh vực tương đối mới ở Việt Nam. Ngay từ đầu chúng tôi đã xác định rằng, bản thân công ty còn ở quy mô nhỏ nên không hoạt động ở nhiều lĩnh vực mà chỉ chuyên sâu vào lĩnh vực CNTT trong ngân hàng và tài chính ngân hàng. Cho đến bây giờ, lĩnh vực này vẫn là thế mạnh của công ty chúng tôi.
PV: Có ý kiến cho rằng ngành công nghiệp phần mềm Việt Nam là “không có gì” ngoài cái vỏ bọc ngụy trang về “gia công phần mềm”. Anh nghĩ gì về ý kiến này?
NTHH: Tôi không phải dân công nghệ mà làm kinh doanh nên tôi nghĩ cái nhìn của tôi về công nghệ, giải pháp cũng sẽ khác với một số người. Một số công ty ở Việt Nam thường đầu tư vào đội ngũ kỹ thuật để viết ra các phần mềm áp dụng cho các khách hàng ở Việt Nam. Quan điểm của tôi là để viết ra các phần mềm áp dụng cho từng lĩnh vực đó thì cần 2 yếu tố: thứ nhất là người lập trình giỏi và người nghiệp vụ giỏi chưa kể đến một kiến trúc sư trưởng giỏi kết hợp giữa lập trình và nghiệp vụ để tạo ra những định hướng phát triển tương lai. Tức là viết phần mềm không phải chỉ phát triển phần mềm cho năm nay, năm sau mà là phải thấy được phần mềm viết cho từng lĩnh vực sẽ phát triển trong 5 năm, 10 năm sau. Có như vậy phần mềm đó mới có được một cấu trúc mở và có khả năng áp dụng trong tương lai. Giống như việc đi mở đường vậy, chúng ta không đơn thuần là đi mở đường theo quy hoạch kiểu làm đường tới đâu thì đặt cáp quang, cáp điện tới đấy.
Tôi nghĩ rằng ở Việt Nam mình, những người làm được như vậy rất ít. Để làm được điều đó như tôi đã nói là cần một người có kinh nghiệm và biết áp dụng những cái sẵn có ở nước ngoài vào Việt Nam. Đó là cách “đi tắt đón đầu” mà chúng ta vẫn thường nói.
PV: Phải chăng chúng ta đang thiếu nguồn nhân lực cấp cao và tiềm năng tài chính cho phát triển công nghệ phần mềm nên mới “đi tắt đón đầu”?
NTHH: Nếu như mấy năm trước thì có thể nói là đúng như vậy. Chúng ta có lợi thế so với các nước đó là nguồn nhân lực trẻ đang được đào tạo tại trường Đại học, Cao đẳng . Tôi nghĩ trong 10 năm tới, Việt Nam chưa thể trở thành một trong những quốc gia hàng đầu về công nghệ phần mềm, song hoàn toàn có thể trở thành một trong những quốc gia hàng đầu về nhân lực phần mềm.
Còn việc “đi tắt đón đầu” đó là điều tất yếu để phát triển nhanh mà không riêng gì ngành công nghệ phần mềm áp dụng. Một số công ty có định hướng rất tốt là áp dụng những thành tựu nước ngoài sẵn có sau đó sử dụng nhân công của mình cũng như những hiểu biết riêng về thị trường mình để tạo ra những sản phẩm phù hợp với một số đối tượng nhất định của Việt Nam.
Thực tế nhiều ngân hàng dùng phần mềm trong nước nhưng cũng có những ngân hàng dùng phần mềm của nước ngoài và tôi nghĩ rằng mỗi một giải pháp đều có một phân khúc thị trường nhất định và mình chọn những phân khúc khác với những doanh nghiệp đang tự phát triển phần mềm. Nếu đi theo hướng cũ thì chúng tôi sẽ bị chậm hơn họ rất nhiều. Ví dụ như FPT là một doanh nghiệp rất mạnh có lịch sử phát triển đến 15 năm với một đội ngũ viết phần mềm gần 1,000 người do đó nếu chúng tôi đầu tư phát triển một phần mềm nào đó thì mãi mãi chúng tôi sẽ bị chậm hơn họ ít nhất là 10 năm. Vì thế, thay vào đó chúng tôi chọn một con đường khác nhanh hơn.
 |
|
Nguồn ảnh - coolest-gadgets.com |
PV: Nhưng rõ ràng với những cách làm như vậy đến bao giờ chúng ta mới có thể xuất khẩu được phần mềm "made in" Việt Nam?
NTHH: Thực tế thì chúng tôi cũng rất khó có thể bao trùm toàn bộ lĩnh vực này. Chúng tôi không lấy cắp những ý tưởng mà là chọn những đối tác có những giải pháp đã thành công trong khu vực và trên thế giới. Đó là những đối tác có lộ trình phát triển phần mềm rõ ràng, có uy tín quốc tế. Có những đối tác nằm trong TOP 5 thế giới trong lĩnh vực giải pháp phần mềm. Chúng tôi đưa họ về Việt Nam và trở thành đối tác trong nước để hỗ trợ họ việc triển khai, biến hoá những phần mềm theo yêu cầu ở thị trường Việt Nam. Tôi tin rằng đó là một hướng đi đúng.
PV: Là một trong những công ty hàng đầu về lĩnh vực cung cấp các giải pháp CNTT cho khối tài chính – ngân hàng nhưng cho đến thời điểm này Amigo vẫn chưa có phần mềm nào tự phát triển? Đã bao giờ Anh gặp được câu hỏi như thế này từ các khách hàng của mình chưa?
NTHH: Amigo chỉ là một công ty nằm trong tập đoàn, trong đó ngoài Amigo Technologies là công ty chuyên về lĩnh vực CNTT thì còn 3 công ty khác nữa, một công ty chuyên phát triển phần mềm cho thị trường nước ngoài, một công ty chuyên về khoáng sản và một công ty trong lĩnh vực đầu tư tài chính.
Tôi đã gặp nhiều câu hỏi tương tự như câu bạn hỏi. Tôi nghĩ rằng đối với 1 công ty hoạt động trong lĩnh vực phát triển phần mềm ở thị trường Việt Nam, nếu là một công ty hạch toán độc lập thì không có nhiều đơn vị mạnh. Sự phát triển của các công ty trong lĩnh vực này ở Việt Nam tương đối vất vả. Thường thì có hai khía cạnh: khía cạnh thứ nhất là sản xuất những phần mềm thông dụng mà ai cũng có thể dùng được, tương đối đơn giản và khía cạnh thứ hai là sản xuất những phần mềm ứng dụng đặc thù của từng ngành, có yêu cầu rất cao và đòi hỏi sự hiểu biết chuyên sâu về lĩnh vực đó, do đó chúng tôi nghĩ rằng mình chỉ nên làm những cái mà mình có hiểu biết tốt nhất.
PV: Theo anh khó khăn lớn nhất trong thời điểm này của các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh CNTT là gì?
NTHH: Đây là thời kỳ khó khăn chung đối với tất cả các doanh nghiệp không riêng gì các doanh nghiệp CNTT. Quý 3 năm nay đến quý 2 năm sau sẽ tiếp tục là sự thử thách cho các doanh nghiệp. Nền kinh tế vĩ mô mang tính chất chu kỳ, doanh nghiệp cũng vậy, có những giai đoạn hưng thịnh, giai đoạn thoái trào. Nếu chúng ta biết phát triển thì sẽ lên một tầm cao mới nếu không chúng ta sẽ mãi ở chu kỳ này. Hiện giờ có yếu tố cộng hưởng và hình sin của nền kinh tế vĩ mô. Doanh nghiệp bây giờ không chỉ đơn thuần hô hào tiết kiệm mà cần phải chung lưng đấu cật với nhau vượt qua thời kỳ khó khăn này. Doanh nghiệp tôi cũng đã xác định điều này từ khi nền kinh tế bắt đầu gặp khó khăn. Các doanh nghiệp làm dịch vụ như chúng tôi cũng bị ảnh hưởng nhưng không nặng lắm. Mọi người vẫn có quyền đặt cược vào kinh tế Việt Nam vì vẫn có rất nhiều yếu tố để Việt Nam phát triển tốt. Tuy nhiên một câu hỏi lớn là khi nào nền kinh tế Việt Nam phục hồi trở lại, lạm phát được kiềm chế tốt và các ngành đều phát triển? Và tôi hy vọng nền kinh tế Việt Nam sẽ sớm vượt qua khó khăn và các doanh nghiệp Việt Nam lại khởi sắc.
(Còn nữa)
Việt Cường (Vietimes) thực hiện