TRANG CHỦ BÀI ĐỌC NHIỀU NHẤT BẠN ĐỌC VÀ TÒA SOẠN ĐẶT VIETIMES LÀM TRANG CHỦ
Người quan sát Đối thoại Việt Tiếng gọi số phận Chuyên đề Tính cách Việt Nhiệt kế văn hoá Câu lạc bộ tỷ phú Khoa học giới tính Ngàn ô cửa thế giới
Tìm kiếm :
  

Tổng Giám đốc Ngân hàng Nam Á Hoàng Văn Toàn:

Nghệ thuật của niềm tin
Thứ bảy, 29/9/2007, 09:00 GMT+7

Khi Ngân hàng Nam Á, một trong những ngân hàng cổ phần đầu tiên ở Việt Nam, được thành lập vào năm 1992, thì niềm tin của khách hàng là thứ mà các ngân hàng tư nhân thiếu nhất.



Ngân hàng Nam Á

Đầu những năm 1990, Liên Xô tan rã, hệ thống xã hội chủ nghĩa lung lay, Việt Nam bước vào thời kỳ cải cách mở cửa, dần chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường. Trong bối cảnh cả một xã hội đã quen dựa vào bao cấp, vào nhà nước hay quốc doanh, vậy phải làm sao để người dân tin vào một ngân hàng tư nhân?

Sau giải phóng, từ cái thời kinh tế chiến tranh, chúng ta lao về về kinh tế hòa bình. Thời đó, ngân hàng nhà nước vừa quản lý, vừa kinh doanh. Hay nói một cách đơn giản hơn, ngân hàng lúc đó thực chất chỉ là một đơn vị thu chi cho chính phủ, chứ chưa phải là một ngân hàng kinh doanh thực thụ.

Sau đó một thời gian, chính phủ cho phép thành lập các hợp tác xã tín dụng, quỹ tín dụng. Nhưng vì lúc đó, kinh nghiệm chưa có, con người chưa được đào tạo, mà cũng không có luật pháp hỗ trợ, nên dẫn đến sự đổ vỡ của các tổ chức này. Sau đó, chính phủ ban hành pháp lệnh ngân hàng, yêu cầu củng cố xây dựng lại ngành ngân hàng để bước đầu thí điểm cho các thành phần khác tham gia làm ngân hàng. Ngân hàng đã không còn là độc quyền của nhà nước.

Là người trong cuộc, tôi hiểu rằng các ngân hàng nhà nước không đáp ứng đủ vốn nên mới cần ngân hàng tư nhân. Hơn nữa, nhà nước đã ban hành pháp lệnh ngân hàng, tức là đã cho chúng tôi một cái “danh chính ngôn thuận”. Trước đây, hợp tác xã tín dụng là mô hình tự phát của địa phương, còn bây giờ ngân hàng cổ phần kinh doanh theo pháp lệnh của nhà nước, có chế độ bảo hộ nhất định nào đó. Bởi vậy ngân hàng cổ phần có cơ phát triển. Lúc đầu, người dân vẫn còn e dè, họ chỉ thích gửi tiền ở ngân hàng nhà nước chứ ít người tin ngân hàng cổ phần. Nhưng rồi dần dần, người dân thấy mình làm ăn tốt nên cũng gửi tiền vào bên mình nhiều hơn. Niềm tin được xây dựng từ đó.

Lúc đó, khó khăn chồng chất. Đối với các ngân hàng cổ phần, vấn đề an toàn được đặt lên hàng đầu. Mà muốn an toàn thì phải có tài sản thế chấp cầm cố, nhưng các xí nghiệp quốc doanh lại không muốn làm điều này. Họ vẫn quen nếp làm ăn cũ, vẫn dựa vào các ngân hàng nhà nước, ngân hàng quốc doanh. Vậy nên, các ngân hàng cổ phần chỉ chủ yếu cho các thành phần ngoài quốc doanh vay.

Nhưng tôi thì nghĩ nhà nước rồi sẽ thay đổi luật pháp theo hướng hoàn thiện hơn, ngày càng tạo điều kiện cho ngành ngân hàng hơn. Với niềm tin đó, mình cứ cố gắng làm, rồi đợi, thậm chí nhiều lúc mình còn phá rào đi trước nhà nước. Có nghĩa là mình biết cái này hợp với dân, với kinh tế thị trường nhưng do cơ chế nhà nước chậm nên nhiều lúc mình lách đi trước. Kinh nghiệm cho thấy, sau một thời gian, nhà nước sẽ hợp thức hóa cái đó.


Tổng Giám đốc Ngân hàng Nam Á Hoàng Văn Toàn


Ở thời điểm đó, các chính sách của nhà nước còn bó tay bó chân ngân hàng nhiều lắm. Như về lãi suất, nhà nước định [tỷ lệ] lãi suất, nên ngân hàng chỉ có [việc] huy động trên vốn, cho vay trên vốn. Trong khi đó, nhiều lúc mình có những thời vụ bận rộn như Tết. Doanh nghiệp trong dịp này cần rất nhiều tiền, nên cần sự điều chỉnh linh hoạt. Hoặc sau vụ Tết, hết thời vụ rồi thì lãi suất phải giảm xuống. Mình cứ làm rồi đề xuất nhà nước giảm lãi suất xuống. Cái nữa là hạn chế về mặt kỹ thuật, chẳng hạn như thanh toán. Nếu không có mạng thanh toán toàn quốc, thì làm sao đẩy mạnh thanh toán được, mà không đẩy mạnh thanh toán được, thì làm sao tăng tiền gửi thanh toán lên được.

Mục tiêu của mình khi đó là phải cạnh tranh được với các ngân hàng quốc doanh. Để kéo được khách hàng về mình thì phải phân tích được nhược điểm của các ngân hàng quốc doanh, khắc phục cái đó và biến nó thành ưu điểm của mình.

Ví dụ, ngân hàng quốc doanh làm thủ tục cho khách hàng lâu, thì mình phải làm sao nhanh hơn. Rồi cán bộ của ngân hàng quốc doanh không cười với khách hàng, thì cán bộ của mình sẽ niềm nở. Giấy tờ của ngân hàng quốc doanh cũ quá, thì giấy tờ của mình phải làm sao vừa mới, đẹp vừa đảm bảo. Nói chung là mình phải tập trung chăm sóc khách hàng để làm sao cho người dân dù chưa tin nhưng vẫn thấy mình làm tốt, chi trả đàng hoàng, lãi suất cao, vay mượn dễ dàng, không phiền hà, nhanh chóng. Dần dần họ sẽ tin. Khó nhất là chỗ đó. Còn nếu mà không đả thông được quan điểm, tư tưởng của khách hàng thì thua, thực sự là sẽ thua.

Bây giờ, cơ chế cho ngân hàng đã khác lắm rồi. Mấy năm gần đây, nhà nước đã cho các ngân hàng tư nhân quyền tự quyết lớn hơn nhiều. Nhà nước chỉ lo về những vấn đề vĩ mô và sự an toàn, tức là vốn anh tới đâu thì làm tới đó, sức tới đâu thì mở tới đó, vốn thấp quá, thì nhà nước không cho làm. Nhà nước đang chuyển từ quản lý bằng văn bản hành chính sang quản lý bằng chính sách kinh tế. Cho nên, đây là lúc mà từng ngân hàng phải tự lo cho mình, không thể dựa vào hay trách móc nhà nước được. Anh thành công hay không là do anh.

Trong cơ chế này, ngân hàng lại phải đối mặt với những kiểu khó khăn khác. Ví dụ như kiểu cạnh tranh không lành mạnh. Tin đồn Tổng Giám đốc ACB bị bắt đã khiến ngân hàng này mất bạc tỷ. Niềm tin đối với ngân hàng là rất quan trọng, bởi vậy chỉ một tin nhạy cảm được tung ra là không thể một ngân hàng nào chống đỡ được, ngay cả ngân hàng mạnh nhất.

Sau sự việc đó, các ngân hàng họp lại xây dựng phương án phản ứng nhanh. Phản ứng nhanh có nghĩa là nếu có những sự kiện như vậy, thì bộ phận này làm cái gì, bộ phận kia làm cái gì, chuẩn bị những gì. Từ kinh nghiệm bản thân, tôi thấy giữa các ngân hàng với nhau cần phải minh bạc, rõ ràng, không thể úp úp mở mở.

Hồi đó, Tổng Giám đốc ACB nhức đầu quá nên không muốn nghe điện thoại. Những người gọi điện thoại tìm hiểu, lúc đầu chỉ hoang mang thôi nhưng do ông không nghe máy, người ta hoảng lên. Cái thứ nữa là phải luôn lập phương án dự phòng. Và thứ ba là phải tức tốc báo cáo lãnh đạo địa phương và ngân hàng nhà nước. Trong những lúc nước sôi lửa bỏng như vậy, không thể đơn phương độc mã giải quyết được.

Nói rõ ràng hơn là cạnh tranh trong ngành ngân hàng là cạnh tranh nhưng hợp tác, không cạnh tranh để tiêu diệt. Bởi một ngân hàng đổ, thì chắc gì mình đã vững dù cho mình mạnh cỡ nào đi nữa. Thế cho nên, cạnh tranh trong ngành ngân hàng là chia bánh thôi, mình cố gắng có phần trong miếng bánh chung chứ không muốn đối thủ của mình có sự cố gì.

Ngay cả với ngân hàng nước ngoài khi vào Việt Nam, mình cũng phải tìm cách hợp tác rồi chia phần với họ. Việc các ngân hàng nước ngoài vào Việt Nam là điều tất yếu, là sự giao thoa trong quá trình hội nhập. Nhà nước mình cũng mong muốn họ vào và việc các công ty nước ngoài đổ vào đầu tư ở Việt Nam cũng mở đường cho các ngân hàng nước ngoài vào theo. Khách hàng đến đâu thì ngân hàng phải đi theo đến đó, cho nên mình không thể nào cản họ được. Vấn đề là làm sao mình củng cố được bản thân mình, xây dựng được niềm tin cho khách hàng của mình để mình có thể phát triển hơn. Trên một khía cạnh khác, sự cạnh tranh của các ngân hàng nước ngoài càng khiến cho mình quyết tâm để làm tốt hơn.

Hoàng Văn Toàn

Ý kiến của bạn về bài viết này
  Tắt Telex Vni
Họ và tên:   
Địa chỉ:  
E-mail:   
Điện thoại:   
File gửi kèm:    (Max 100KB)
File gửi kèm:    (Max 100KB)
File gửi kèm:    (Max 100KB)
Tiêu đề:   
Nội dung:   
   
CÁC TIN KHÁC
“Nhu cầu mới của đời sống kinh tế hiện đại”  (28/09/2007)
Tiến sĩ Lê Đăng Doanh: “Chống nhập siêu - Không khó”  (28/09/2007)
“Kẻ thù” của nền kinh tế Việt Nam: Không phải là nhập siêu  (27/09/2007)
Tỷ phú Thành Chương trong mắt một người chưa giàu  (25/09/2007)
Muốn dự án thành công, hãy lo cho dân trước!  (24/09/2007)
Chỉ chi 3,5% GDP cho giáo dục, Ấn Độ không thể cất cánh!  (21/09/2007)
Thị trường ngân hàng thiếu cả về sản phẩm và nhân lực  (20/09/2007)
Charly Mandy: “Thị trường ngân hàng Việt Nam chật chội, dịch vụ kém”  (20/09/2007)

 
 

© VieTimes – Chuyên mục của Báo điện tử VietNamNet - Tổng biên tập: Nguyễn Anh Tuấn
® Ghi rõ nguồn “vietimes.vietnamnet.vn” khi trích dẫn lại từ website này.
Tòa soạn: Số 4 Láng Hạ, Ba Đình, Hà Nội, Điện thoại: (04)3772-2729 * Fax: (04)37725264 * E-mail: vto@vietnamnet.vn