Cập nhật cuối: 7/6/2010 15:12:15    
 
- Bí mật rung động “huyệt đạo trai tân” giải oan tội hiếp dâm   - Đì tìm gốc gác một loài cây   - Trường ca Trường Sơn - Ngọn lửa và tiếng hát   - Mai Văn Phấn & công nghệ cách tân thơ   - Người đàn bà chỉ tưới hoa đêm   - Người đàn bà trong Mùa hoa cải bên sông   - Nhà văn đầu tiên và mãi mãi của tôi   - Các chuyên gia của Bộ Y tế đã làm việc kiểu gì?  
Văn nghệ sỹ Việt Nam quá “bạc tình” với sông Đà… ?! (Phần II)
(07:00, 25/03/2009)


>> Văn nghệ sỹ Việt Nam quá “bạc tình” với sông Đà… ?! (Phần I)



"Phong cảnh quyến rũ, giá trị nhiều mặt của sông Đà, không lẽ tất cả chúng ta để mặc chúng chết chìm trong lòng hồ khổng lồ? Như thế là có tội với lịch sử!" - Ảnh: Đỗ Doãn Hoàng


3.
Sau đây, tôi thử lấy ví dụ về sự “ba đào” của hệ thống bia ký, chữ nghĩa, di tích liên quan đến các cuộc chinh phạt của vua Lê ở ven sông Đà để thuyết phục mọi người mau thu vén để bảo vệ Đà Giang trong cơn sóng gió lớn mang tên Thủy Điện. Nước ta chắc chắn không có dòng sông nào kỳ lạ như sông Đà, bằng chứng cho nhận định này, trước hết là ở hệ thống vách đá ven sông được vinh dự khắc rất nhiều chữ của vua. Chữ thiêng về các cuộc trường chinh của đấng quân vương đích thân đi dẹp “bọn phản nghịch ở Mường Lễ” cùng ngoại bang vẫn còn đó, suốt nhiều thế kỷ, cho đến khi chúng ta tiến hành khai thác “vàng trắng”. Nước dâng cho Thủy điện Hòa Bình, năm 1982, vách núi sừng sững có khắc bia đá cổ ở Thác Bờ, thuộc xã Hào Tráng, huyện Đà Bắc, tỉnh Hoà Bình đã được bóc đẽo di dời nguyên khối về Bảo tàng tỉnh Hòa bình (nay bảo tàng sửa chữa, lại đang được di dời tiếp sang địa điểm mới). Bia chép bài Tiêu dẫn của Lê Thái Tổ (Lê Lợi) đề rằng:

“Năm Nhâm Tý 1432, Thuận Thiên thứ 5, tháng 3, ngày tốt.

Ta đi đánh Đèo Cát Hãn về qua đây, làm một bài thơ để đời sau được biết về đạo lý đánh giặc:

Bọn phản nghịch ở Mường Lễ mặt người dạ thú, nếu ngang ngạnh, không chịu theo đức hoá thì phải dẹp ngay cho dứt. Ta chẳng sợ gì hiểm trở và sơn lam chướng khí. Như thế là vì lo nghĩ đến sinh linh trong thiên hạ. Còn phương lược ra quân thì hai đạo Thao - Đà, đường thuỷ là đường tiến binh tốt nhất.

Đường hiểm gập ghềnh không ngại khó

Tuổi già ta vẫn còn tấm gan sắt

Nghĩa khí quét sạch nghìn đám mây mù

Tráng tâm san cách muôn trùng núi

Phải trù liệu phương lược làm tốt việc biên phòng

Phải toan tính sao cho xã tắc dài lâu yên ổn

Ba trăm khúc thác ghềnh nguy hiểm - lời nói ấy kể chi

Nay ta chỉ thấy nước chảy thuận dòng”.

Dòng nước ấy là sự bình yên, cũng là nước Đà Giang vĩ đại, “ba trăm khúc thác ghềnh nguy hiểm” như lời vua Lê. Thưa đức vua, Đà Giang lộ, giờ đến thác ghềnh cũng chả còn nữa!


Sông Đà còn được biết đến như là dòng sông của những tấm bia cổ. Trong ảnh là khối đá do vua Lê Lợi trực tiếp dùng kiếm khoét lên vách đá đề thơ, khi ông ngồi thuyền rồng đi dọc sông Đà lên Tây Bắc diệt giặc cỏ (cách ngày nay hơn 500 năm). Khi thủy điện Hòa Bình dâng nước, chữ của vua khắc lên đá đã được bứng nguyên khối mang về Bảo tàng tỉnh trưng bày. Chúng ta đã làm nhiều việc tình nghĩa với dòng Đà giang huyền thoại, không lẽ, trong dịp khai tử con sông đã nghìn năm bồi đắp nên văn hóa dân tộc này (khi Thủy điện Sơn La dâng nước), văn nghệ sỹ Việt Nam thời hiện đại lại cứ bạc tình với sông như vậy ư? (Người đứng bên trái ảnh là Giám đốc Bảo tàng Tổng hợp tỉnh Hòa Bình)


Tương tự như vậy, sau khi dẹp yên vùng phên giậu, người anh hùng Lê Lợi cũng đã gọt một vách đá chênh vênh trên bờ Đà giang (nay là huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu), khắc chữ đề một bài thơ. (Thơ rằng: “Bọn giặc cuồng sao dám trốn tránh. Tội đáng giết. Dân ngoại biên đã từ lâu ta đợi đến cứu sống, kẻ bầy tôi làm phản từ xưa vẫn có. Đất đai hiểm trở từ nay không còn. Hình bóng cỏ cây và tiếng gió thổi hạc kêu cũng làm quân giặc kinh sợ. Non sông này nhập vào một bản đồ, đề thơ khắc lên núi đá. Chắn giữ phía Tây nước Việt ta. Ngày lành tháng Chạp năm Tân Hợi, tức tháng 1 năm 1432”). Và bài thơ đó, vì thủy điện trên sông Đà, cũng sắp được bứng ra khỏi vách đá bản Trang, nơi chữ của vua đã “ngự” suốt 576 năm qua.

Vùng Sơn La, hiện nay vẫn còn những địa danh “vĩ đại” như cái Bến Vua nổi tiếng (nơi nhiều trăm năm trước thuyền rồng vượt ghềnh thác sông Đà của vua đã ghé) và rất nhiều tấm bia đá ghi lại vĩnh hằng những chiến công hiển hách của vua chúa phong kiến Việt Nam đã đi dọc sông Đà bảo vệ và coi sóc vùng phên giậu. Đứng trước những tấm bia đã được đẽo gọt, di dời khỏi vách đá mẹ, khỏi địa điểm hùng thiêng thời các ông hoàng bằng xương bằng thịt đã gọt đá đề thơ - ai cũng vậy, sẽ thấy chữ của vua đã khuyết đi ít nhiều cái phong vị cổ xưa và thành kính vốn có nữa. Bia đá của vua còn bị “ba đào” nghiêng ngả như vậy, huống hồ các giá trị mong manh mất còn như những nếp nhà, nếp bản tre pheo gỗ lạt cũ càng, những bến nước mà vẻ đẹp huyền bí của nó toát lên nhờ dáng sung si đa đề trùm phủ la đà, cộng với vóc núi điệp điệp, sông nước mênh mang bên mép nước…

4. Trở lại bài toán ban đầu: việc xây dựng các lòng hồ thủy điện khổng lồ khai thác tiềm năng “vàng trắng” đất trời ban phát cho Đà Giang là chủ trương đúng và hợp lòng dân của Nhà nước ta. Nhưng, để lưu giữ được các giá trị muôn một của sông Đà cùng bản sắc cư dân, di sản văn hóa, giá trị cảnh quan đôi bờ, ta phải làm gì? Bài toán này đã được các nhà quản lý, các nhà văn hóa đặt ra từ khi kế hoạch xây dựng Thủy điện Hòa Bình mới manh nha, tức là từ mấy thập niên trước. Tuy nhiên, việc thực hiện quá là đánh trống bỏ dùi, manh mún, nhỏ lẻ, “được chăng hay chớ”. Thảng hoặc có nhà khảo cổ đi tìm những bãi đá cổ khắc những hình dáng bí ẩn như của người ngoài hành tinh ở Liệp Tè, Thuận Châu; thảng hoặc có vài chuyên gia tính kế bảo vệ bia ký hai bên bờ sông; rồi nghiên cứu bảo tồn phong tục của các cộng đồng người bị tái định cư thuộc 4 tỉnh Tây Bắc bị ngập nước… Có vẻ như chúng ta mải mê vẽ ra “đầu việc” kiểu “cá kể đầu rau kể mớ” hơn là thực thi việc bảo tồn, di dời cẩn trọng - khoa học với niềm đam mê tiếc nuối thật sự. Vì tiền nhân, vì chúng ta và vì muôn đời con cháu. Một việc đơn giản nhất, vẫn chưa làm được, ví dụ như: cảnh quan địa chất, địa mạo, các thắng cảnh (đá, thác, hang động, các di chỉ khảo cổ…) ở nơi sẽ là lòng hồ đã được chụp ảnh quay phim lại như thế nào? Đã xứng tầm và đủ đầy như cần phải có không? Dọc sông Đà có bao nhiêu ngọn thác đẹp và hiểm ác, nó nằm ở đâu, nó “dữ” đến mức nào, huyền sử về vùng ấy ra sao? “Ký ức” độc nhất vô nhị đó được lưu giữ ra sao trước khi nó biến mất? Chúng ta đã bao giờ thật sự đi hết mấy trăm cây số ghềnh thác sông Đà với những bộ ảnh, thước phim sinh động để con cháu sau này hình dung ra con sông kỳ diệu đã chết của đất nước ông bà chưa? Các bản làng, các lễ hội, phong tục tập quán, các cảnh quan thiên nhiên nổi tiếng, các di tích lịch sử cách mạng lừng danh của Tây Bắc đã và sắp bị ngập nước chúng ta đã lưu giữ được những gì, “nó” nằm ở đâu, muốn “thưởng thức” thì gặp ai để tìm?



Đôi lúc, mùa khô, sông Đà trở nên nhỏ nhẻ, yên bình với thủy điện nhỏ và những guồng nước, thuyền đuôi én tãi ra ở ven xã Mường Tè hoang vu... 



Chàng trai người dân tộc Hà Nhì, sống ở đầu nguồn sông Đà, đang làm một cái quăng chài khổng lồ đi úp cá lớn dọc ghềnh thác sông Đà. 



Người Hà Nhì và không gian sống của họ tại Mường Tè, Lai Châu – ven sông Đà khúc thượng lưu.



Con cá chiên lớn mà người Hà Nhì đã săn được ở đầu nguồn sông Đà


Câu trả lời là: không thấy có, hoặc mới chỉ manh nha “có” mà không xứng tầm. Nói đúng hơn chúng ta chưa đủ lãng mạn và tử tế với dòng sông Đà Giang kỳ ảo để thực thi những công việc trên một cách nghiêm túc. Vài văn nghệ sỹ, nhà báo, nhà nhiếp ảnh, các quay phim vì xót xa cho Sông Đà mà lang bang Tây Bắc vài chuyến trước khi những giá trị muôn một của dòng sông ánh sáng biến mất. Anh Nghiệp, một đạo diễn của điện anh quân đội mới vừa thiệt mạng khi ngồi thuyền, quay cảnh sóng thác sông Đà ở Mường Tè mới đây là một ví dụ. Sự nhỏ lẻ đó, chẳng bao giờ cứu vãn được tình thế, với cả núi công việc nhằm giữ lại hình ảnh, xúc cảm, tư liệu, truyền thuyết, triết lý vế sông Đà hùng vĩ, điệp trùng hoang sơ kia. Nhân danh một người yêu Tây Bắc, tôi thống thiết kêu gọi ngành văn hóa, UBND các tỉnh Tây Bắc; các ngành, hội ở TW (như nhiếp ảnh, truyền hình, các hãng phim, các tờ báo - tạp chí, ngành hội họa, văn nghệ dân gian…) nên sớm làm một nghĩa cử đủ quy mô liều lượng để cứu sông Đà - dòng nước lớn mang tải quá nhiều cái nhất của nước Việt Nam ta. Ví dụ như tổ chức các cuộc thi sáng tác, trưng bày, đầu tư cho các cuộc điền dã công phu và máu thịt để lưu giữ lại các giá trị quý trên nhiều phương diện của Sông Đà. Công việc này không khó, cũng không phải là quá tốn kém, bởi bao đời nay, chúng ta luôn có sẵn những điều hồn say mê Tây Bắc và sông Đà. Bản thân sông Đà, “chàng” cũng luôn tấu lên khúc lãng du nguồn cội, đẫm đùa mây gió, núi chon von cao, vực hun hút sâu trong rất nhiều người nghệ sỹ. Chỉ có điều, “năng lượng” kia chưa được tập hợp, tổ chức lại trong một chuyên đề: Thương Khóc Đà Giang. Cả bằng tư liệu thô, cả bằng nghệ thuật “chín” đích thực, việc lưu giữ đó là cần thiết, hữu ích, cũng là một hành động có ý nghĩa nhân văn với toàn vùng văn hóa rộng lớn, đa sắc của Tây Bắc.


"Từ những khe nước nhỏ, trải qua lau lách và những vách núi dựng trời, hệ thống sông Đà được hình thành với vẻ đẹp hớp hồn người ta. Thương thay, tất cả sắp biến mất..."


Sau khi “hy sinh” rất nhiều “năng lượng sống” của mình “Vì dòng điện ngày mai của tổ quốc” (như khẩu hiệu ở các địa phương, các công trường xây dựng thủy điện), người anh hùng Sông Đà có thể bị “giết chết” một lần nữa, nếu như chúng ta còn tiếp tục thờ ơ với các giá trị hoàn toàn có thể cứu vãn, lưu giữ kể trên. Có lần đứng ở ngã ba Hồng Đà, nơi sông Đà kết thúc hành trình 500km tung hoành khắp miền Tây Bắc Việt Nam của mình, tôi chợt nhận ra một kỷ lục nữa, một vai trò “nhất Việt Nam” nữa của dòng sông Năng Lượng, ấy là: so với sông Hồng, thì Sông Đà còn góp sức nhiều hơn cho việc khai sinh ra Đồng Bằng Sông Hồng, cái nôi của nền văn minh nghìn năm Đại Việt. Bởi, mắt thường và tài liệu của các nhà khoa học đều cho thấy: ở vị trí hợp hôn Sông Hồng và Sông Đà gặp nhau, lượng nước của sông Đà lớn hơn lượng nước của sông Hồng đang cõng theo rất nhiều. Nếu chúng ta sớm biết đo đếm sòng phẳng, theo quy luật hai sông gặp nhau, sông nào bé hơn thì sẽ mất tên gọi, thì: lẽ ra đoạn từ ngã ba Hồng Đà về biển Đông của con cõng nước của sông Đà + sông Hồng phải được mang tên… Sông Đà (còn gọi là Black River) – thay vì gọi là sông Hồng (Red River) như hiện nay. Và châu thổ Bắc Việt Nam, phải được gọi là Đồng Bằng Sông Đà, nền văn minh Sông Đà (thay vì Nền văn minh Sông Hồng như nhiều thế kỷ qua chúng ta vẫn gọi). “Lý sự cùn” một chút như thế, cũng chỉ là để chúng ta thêm trân trọng sông Đà, ngõ hầu chung tay giải bài toán: phải sớm tìm các phương tiện kỹ thuật, các hình thức nghệ thuật “đủ dùng” để lưu giữ huyền sử sông Đà.

Xin hãy cứ mở đầu bằng một lời hiệu triệu….

Bút ký của Đỗ Doãn Hoàng

 Gửi tin qua Email  |  Bản in

Gửi phản hồi
Người gửi:
Nơi công tác:
E-Mail:  
Tiêu đề:
Nội dung:
Tệp đính kèm:
Mã an toàn:
Nhập mã an toàn
 

Các tin khác
Văn nghệ sỹ Việt Nam quá “bạc tình” với sông Đà… ?! (Phần I) (24/03)
Chúng ta vẫn hằng làm hư nhiều bà con của mình! (17/03)
Lời "tôn vinh" đôi dép (13/03)
“Đương thời” đâu phải chỉ là… “bấy giờ” (12/03)
Có phải người phụ nữ nào cũng có ngày 8/3? (07/03)
Xấu hổ vì điện thoại di động… (09/03)
Phân bón… Bắc Bình Vương (Nguyễn Huệ), trời ạ! (10/03)
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng (05/03)
Khi “ông” nhà máy nước… “trừng phạt” dân! (04/03)
Gửi đồng chí nhà báo cần phải đi học lại… nghiệp vụ báo chí! (25/02)
Phát hiện ống xương lạ ở Hoà Bình
Xấu hổ vì điện thoại di động…
Các chuyên gia của Bộ Y tế đã làm việc kiểu gì?
Cái dạ dày và sự tử tế (Phần II)
Văn nghệ sỹ Việt Nam quá “bạc tình” với sông Đà… ?! (Phần I)
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng
Văn nghệ sỹ Việt Nam quá “bạc tình” với sông Đà… ?! (Phần II)
Mốt kỳ quái: Những cậu ấm thích màu hồng?
Phân bón… Bắc Bình Vương (Nguyễn Huệ), trời ạ!
Lời "tôn vinh" đôi dép
Chúng ta vẫn hằng làm hư nhiều bà con của mình!
“Đương thời” đâu phải chỉ là… “bấy giờ”

© VieTimes – Chuyên mục của Báo điện tử VietNamNet - Tổng biên tập: Nguyễn Anh Tuấn
® Ghi rõ nguồn “vietimes.vietnamnet.vn” khi trích dẫn lại từ website này.
Tòa soạn: 141 Bà Triệu, Hai Bà Trưng, Hà Nội - Điện thoại: 04 37722729 * Fax: (04)37722734 * E-mail: vto@vietnamnet.vn