Cập nhật cuối: 7/6/2010 15:12:15    
 
- Bí mật rung động “huyệt đạo trai tân” giải oan tội hiếp dâm   - Đì tìm gốc gác một loài cây   - Trường ca Trường Sơn - Ngọn lửa và tiếng hát   - Mai Văn Phấn & công nghệ cách tân thơ   - Người đàn bà chỉ tưới hoa đêm   - Người đàn bà trong Mùa hoa cải bên sông   - Nhà văn đầu tiên và mãi mãi của tôi   - Các chuyên gia của Bộ Y tế đã làm việc kiểu gì?  
Văn nghệ sỹ Việt Nam quá “bạc tình” với sông Đà… ?! (Phần I)
(07:00, 24/03/2009)


1.
Trong mỗi độ dọc ngang Tây Bắc, tôi đã nhiều lần tự hỏi: chúng ta đã hiểu gì về Sông Đà, con sông chảy những 500km (một nửa chiều dài của đời sông) trên địa phận Việt Nam này? Đó là một câu hỏi day dứt hiện nay, và là một niềm hối hận lớn của tất cả chúng ta về mãi sau này, nếu ta không gấp gáp điền dã “sưu tra” về sông Đà, trước khi mọi việc trở nên quá muộn. Chỉ biết, rõ ràng: Đà Giang là dòng nước thác ghềnh nhất, hoang vu và bí ẩn nhất, mang tải nhiều năng lượng (vàng trắng, thủy điện) nhất Việt Nam. Nó chảy qua rồi làm giàu cho miền đất trùng điệp núi đèo, vùng văn hóa cũng sặc sỡ… nhất nước ta - Tây Bắc. Lại một câu hỏi nữa: mai này, chúng ta sẽ đứng ở đâu để khóc thương sông Đà bị “vùi thây dòng nước bạc” (lòng hồ Thủy điện)? Lơ phơ tôi lại tự giả nhời chính mình: nên đứng ở trên bờ đập thủy điện, chỗ cửa điều tiết nước có cái tua bin biến nước sông Đà “vàng trắng” thành dòng điện. Bờ Thủy điện Hòa Bình, công trình thế kỷ, làm trong vài thập niên, với ít nhất 108 người của Việt Nam và chuyên gia nước bạn hy sinh, nơi 9 tỷ mét khối nước bị chặn để “xấn xẹo” con ngựa chứng tung bờm sóng từ triệu triệu năm trước: sông Đà; hoặc đứng ở bờ đập chỗ cửa máy của Thủy điện Sơn La, thủy điện lớn nhất toàn cõi Đông Nam Á (gần đó là Thủy điện Nậm Nhùn; cạnh nữa là Thủy điện Nậm Chiến…) - các cái thủy điện này đã làm cho sông Đà hầu như không còn ghềnh thác, làm hàng vạn bản làng phải “vén” đi để cho sự xâm chiếm của lòng hồ kỳ vĩ. Đứng ở vị trí đó, bạn sẽ thấy cái tua bin ở các bờ đập thủy điện kể trên đã làm một cuộc đại phẫu để sông Đà không còn chảy nữa.


Vẻ thanh bình với thuyền đuôi én ở bản người Thái, xã Cà Nàng, huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La. Chỉ ít năm nữa, toàn bộ vùng mênh mông này sẽ vùi sâu trong bụng nước hồ Thủy điện Sơn La.



 
Thác Kẻng Mỏ còn hung dữ, ngay cả khi thủy điện Hòa Bình đã đi vào hoạt động. Song chỉ vài năm nữa, sông Đà sẽ không còn thác!


73 ngọn thác “ăn thịt người” cuộn xiết mà nhà văn Nguyễn Tuân từng xả thân chiêm ngưỡng, cũng biến mất. Mặt nước sông Đà ở khu vực cầu Hang Tôm (thị xã Lai Châu cũ) sẽ dâng lên cao hơn so với “cao trình” trung bình của mặt sông Đà từ thượng cổ là… 218m! Tất cả sẽ biến mất. Mặt nước sẽ nằm ở trên đỉnh núi chon von. Vì thế, cả những dòng chữ rút gươm trận khắc trên núi đá ghi tạc cái tráng chí chinh phạt “lũ giặc cỏ” của vua Lê Lợi cũng phải khiêng đi nơi khác, dinh vua Thái Đèo Văn Long cũng chìm trong nước bạc, hàng trăm hàng nghìn bản làng sẽ vĩnh viễn rơi vào cảnh “ly hương”. Đâu là thác Tiếu Ông, Tiếu Bà, đâu là những bản làng nghìn năm qua sống bên ngọn thác với tiếng cười hung hiểm của nước húc vào đá (Tiếu Ông, Tiếu Bà) nhằm giết người đi trên sông, rồi bà con lặng lẽ, các thế hệ truyền nhau một cuốn sổ ân tình: ghi tên những người đã vùi thây trong thác bạc sông Đà. Lại còn có ngọn thác rất dân gian: Thác Giàn Dái. Ai đi qua đó cũng phải cởi bỏ quần áo, vì thuyền bè lút trong xoáy nước, nỗi sợ trong thạch trận đá lớn đá nhỏ ăn thịt người khiến cho bãi đá tròn cao ngất ở chân thác được ví như các viên “ngọc hành” (dương vật) của người xuôi ngược sông Đà hãi hùng bỏ lại, suốt bao đời nay…, cho đến khi thủy điện được be bờ đắp đập. Tôi (người viết bài này) từng vượt thác Kẻng Mỏ, ngọn thác dữ cuối cùng ở thượng nguồn sông Đà (gần nơi sông Đà chảy vào Việt Nam nhất – xem ảnh), thuyền lút đi, lao như mũi tên qua miền thác trắng xóa, mới hãi hùng hiểu là tại bởi làm sao mà thác tên là Kẻng Mỏ. Tiếng quan hỏa, Kẻng Mỏ là mất chảo. Xưa, người Trung Hoa thường xuôi sông Đà sang nước ta bán chảo gang, cứ qua đó là… thuyền quay cuồng nộ, chảo bị hút cả dưới chân thác. Có nhà khảo cổ bảo, nếu giờ có cách nào khai quật chân thác Kẻng Mỏ (địa phận Mường Tè, Lai Châu) lên, thì sẽ thấy lịch sử giao thương “ngàn năm” giữa hai quốc gia… thông qua thế giới của những chiếc chảo gang cổ kính, xanh rì rêu thác!


Các chiến sỹ biên phòng tại đầu nguồn sông Đà



Ngã ba sông Hồng - sông Đà



Sông Đà và những con thuyền đuôi én thon mình ở vùng Thuận Châu, Sơn La




Cây cầu bé như thanh đóm vắt qua sông này, là cây cầu đầu tiên được bắc qua sông Đà, ở vào địa phận xã Mù Cả, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu (tính từ khi sông Đà nhập tịch Việt Nam)



Thiếu nữ Hà Nhì sặc sỡ sắc màu ở bản Xi Nế, xã Mù Cả, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu, ở đầu nguồn sông Đà



Con thác dữ dội ở đầu nguồn sông Đà. Chúng tôi đã vượt thác Kẻng Mỏ bằng con thuyền bé nhỏ đang lao giữa dòng nước bạc kia.

2. Tất cả đã và sắp bị chôn vùi trong bụng nước. Có lần đi tìm lại lịch sử của những người anh hùng dân tộc Mường trong cuộc chiến vệ quốc chống Pháp, tôi đã nghe một người già sọm chỉ xuống dòng hồ thủy điện Hòa Bình mếu máo: “Làng tôi ở đó, chùa làng tôi ở đó, và cái nơi mà “cụ” anh em kết nghĩa quả cảm là người Nhật đã chèn mình ra trước họng súng giặc Pháp cứu bố tôi ở cái dốc Sung chỗ kia, dưới bụng nước đen đen kia kìa”. Không một tấm ảnh, không một cơn cớ gì để gợi nhớ những trang sử kia còn được bà con mình lưu lại. Tôi đã lạnh người, bởi sự hy sinh quá lớn cho việc khai sinh của các cái hồ nước thủy điện nhiều tỷ mét khối nước kia. Trong bụng nước là ký ức, là lịch sử, là văn hóa, là đủ thứ cần phải được lưu giữ… của hàng nghìn bản làng, hàng chục tộc người. Là nước mắt của mỗi người, mỗi gia đình, dòng tộc.

Nếu không nhanh, tình trạng tương tự sẽ tái diễn trong thời gian tới, khi mà hàng loạt thủy điện sắp… khánh thành. Cộng đồng lớn gồm gần ba chục dân tộc ở Tây Bắc có một câu khái quát thế này: “Người Xá ăn theo lửa/ Người Thái ăn theo nước/ Người Mông ăn theo sương mù”. Người Mông ở tít trên núi cao, họ nhìn xuống sông Đà bằng ánh mắt vòi vọi của con đại bàng núi; còn lại, hầu hết bà con Tây Bắc đều tụ cư gần các bến nước yên bình. Người Xá là cách gọi xưa cũ, có ý miệt thị của một số tộc người tự coi mình là Lớn đối với rất nhiều (hầu hết) các dân tộc khác đã “định cư” ở Tây Bắc. Cho nên, nói: Người Xá ăn theo lửa, nhưng thật ra vẫn là ăn theo nước, họ không bao giờ dám rời xa các dòng nước lớn, như sông Đà. Người Thái thì nhất nhất “ăn theo nước”. Vì thế cho nên, những bản làng đẹp nhất, cổ kính nhất, bình yên nhất dọc sông Đà, cơ bản là của người Thái và của các cộng đồng bị gọi là Xá. Như thế, có thể thấy, việc “chôn vùi” các bản làng đã và đang diễn ra (do hệ thống thủy điện trên sông Đà được xây dựng), quả là một cuộc “đào bới xới lộn” kinh khủng với văn hóa Tây Bắc. Tôi đã từng có cảm giác tê tái, thậm chí đã trào chực để khóc được, mỗi lúc đi qua các vách đá dựng trời mà sông Đà luồn lủi tối om bên dưới, sông xẻ đôi các khối đá kỳ vĩ ra mà chảy, với suy nghĩ: bảo tàng địa chất, thiên nhiên tột đỉnh hoang sơ và quyến rũ này sắp biến mất. Những vách đá ấy, ở thượng du, mải nhìn bạn có thể thấy chóng mặt, bạn có thể tin, con hổ con nai hứng chí nhảy từ bờ tả sang bờ hữu của sông Đà được. Những đàn khỉ chuyền cành lóe chóe. Lại nữa là những bản làng đậm đặc các trầm tích văn hóa, phong cảnh yên bình nao lòng với những triền cây cổ thụ, gốc quặn thớ mấy người ôm, sà bóng xuống lòng sông mênh mông, những con thuyền đuôi én thon mình như bờ eo con gái Thái (Hoa ban trắng nở người con gái Thái/ Áng mây bay qua thau nước gội đầu) - tất cả sắp biến mất. Những dòng sông ngầm trong vắt, thoắt phun mình trắng xóa trên đỉnh núi lại chìm mấy chục cây số vào trong lòng địa hình Kaster câm lặng; rồi nhảy cẫng nhô ra ở một bản làng hoang vắng của người Thái Mường Chiên; dọc vùng Thuận Châu, Sìn Hồ, bà con “thờ” từng mó tôm, mó nước ấm ven sông Đà với những “cụ” cá chiên to như thây người nằm sấp. Đi dọc sông Đà từ Mường La, Thuận Châu, Sìn Hồ lên Mường Tè (khúc trên, sông Đà có tên là Nậm Tè), đâu đâu cũng gặp những bảo tàng địa chất, địa mạo và văn hóa, tộc người ven sông. Không chỉ ba tỉnh Sơn La, Điện Biên, Lai Châu bị mất rất nhiều bản làng dưới lòng hồ thủy điện Sơn La (như Hòa Bình từng mất), mà tất cả chúng ta sẽ còn phải đời đời tiếc nuối. Bạn chỉ thật sự thấy xót xa, tê tái, khi bạn đã từng trải lòng mình ở nhan sắc núi rừng dọc mấy trăm cây số chiều dài sặc sỡ, hoang vu, ghềnh thác của Sông Đà. Có lẽ, sẽ không quá lời, nếu nói rằng, Sông Đà là xương xống, là sợi chỉ đỏ, là chất keo dính kết và nhuận sắc cho sức quyến rũ của văn hóa và thiên nhiên Tây Bắc. Tây Bắc sẽ khác, rất khác, nếu thuở tạo sơn, ông Đùng bà Đoàng không ban cho vùng núi cao nhất Việt Nam này dòng Đà Giang.

(Còn nữa)

Bút ký của Đỗ Doãn Hoàng

 Gửi tin qua Email  |  Bản in

Gửi phản hồi
Người gửi:
Nơi công tác:
E-Mail:  
Tiêu đề:
Nội dung:
Tệp đính kèm:
Mã an toàn:
Nhập mã an toàn
 

Các tin khác
Chúng ta vẫn hằng làm hư nhiều bà con của mình! (17/03)
Lời "tôn vinh" đôi dép (13/03)
“Đương thời” đâu phải chỉ là… “bấy giờ” (12/03)
Có phải người phụ nữ nào cũng có ngày 8/3? (07/03)
Xấu hổ vì điện thoại di động… (09/03)
Phân bón… Bắc Bình Vương (Nguyễn Huệ), trời ạ! (10/03)
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng (05/03)
Khi “ông” nhà máy nước… “trừng phạt” dân! (04/03)
Gửi đồng chí nhà báo cần phải đi học lại… nghiệp vụ báo chí! (25/02)
Cái “gia gia” chẳng là… cái gì cả! (24/02)
Phát hiện ống xương lạ ở Hoà Bình
Xấu hổ vì điện thoại di động…
Các chuyên gia của Bộ Y tế đã làm việc kiểu gì?
Cái dạ dày và sự tử tế (Phần II)
Văn nghệ sỹ Việt Nam quá “bạc tình” với sông Đà… ?! (Phần I)
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng
Văn nghệ sỹ Việt Nam quá “bạc tình” với sông Đà… ?! (Phần II)
Mốt kỳ quái: Những cậu ấm thích màu hồng?
Phân bón… Bắc Bình Vương (Nguyễn Huệ), trời ạ!
Lời "tôn vinh" đôi dép
Chúng ta vẫn hằng làm hư nhiều bà con của mình!
“Đương thời” đâu phải chỉ là… “bấy giờ”

© VieTimes – Chuyên mục của Báo điện tử VietNamNet - Tổng biên tập: Nguyễn Anh Tuấn
® Ghi rõ nguồn “vietimes.vietnamnet.vn” khi trích dẫn lại từ website này.
Tòa soạn: 141 Bà Triệu, Hai Bà Trưng, Hà Nội - Điện thoại: 04 37722729 * Fax: (04)37722734 * E-mail: vto@vietnamnet.vn