Cập nhật cuối: 7/6/2010 15:12:15    
 
- Bí mật rung động “huyệt đạo trai tân” giải oan tội hiếp dâm   - Đì tìm gốc gác một loài cây   - Trường ca Trường Sơn - Ngọn lửa và tiếng hát   - Mai Văn Phấn & công nghệ cách tân thơ   - Người đàn bà chỉ tưới hoa đêm   - Người đàn bà trong Mùa hoa cải bên sông   - Nhà văn đầu tiên và mãi mãi của tôi   - Các chuyên gia của Bộ Y tế đã làm việc kiểu gì?  
Xuân và những chuyến rong ruổi kỳ thú với tò he
(07:00, 27/01/2009)
1. Thông thường, đến bất kì một làng nghề nào đó, không cần biết trước là làng nghề gì, chỉ đi một vòng quanh làng là có thể gọi đích danh làng nghề đó. Nh­ng riêng Xuân La là ngoại lệ, dù có đi khắp các ngõ ngách, nhìn vào sân khắp mọi nhà cũng không thể biết được nghề phụ của Xuân La.


Ngộ nghĩnh tò he


Chúng tôi tìm đến nhà ông Thuận - người đã đưa tò he "du Mỹ", "du Nhật" nhưng ông Thuận không có nhà, ông đang bận rộn với gian tò he trên triển lãm Giảng Võ. Con trai cả của ông Thuận đưa chúng tôi đến nhà một số người nặn tò he nhưng chẳng gặp được ai, cụ Hành, cụ Nghệ cũng không có nhà. " Thứ 7, chủ nhật là mọi người đi gần hết, ở nhà chỉ có đàn bà và trẻ con thôi."

Rồi chúng tôi cũng gặp được cụ Đặng Văn Hạ, hôm nay nhà cụ có việc nên mấy ông cháu không rong ruổi với tò he. Cụ Hạ năm nay đã bước sang tuổi 80, cụ đã cùng cháu ngoại là anh Đặng Văn Kha mang tò he đến khắp 64 tỉnh, thành của đất nước. Chẳng cần vốn liếng, chẳng cần đồ nghề lỉnh kỉnh, chỉ giắt lưng 20.000 đồng và dăm cân bột gạo nếp là ông cháu đã có thể bắt đầu cuộc hành trình từ tuần này sang tuần khác, tháng này qua tháng khác.

Bột gạo nếp dẻo thơm đem luộc chín vừa phải, sao cho bột không nhão, cũng không khô. Bột ấy đem trộn với phẩm màu từ đêm hôm trước, sớm hôm sau hai ông cháu cho tất cả dụng cụ "hành nghề" vào thùng gỗ: bó que tre, cái lược nhựa nhỏ, con dao cũng nhỏ, cục sáp ong và bột đã trộn màu, hai chiếc thùng gỗ chằng vào hai chiếc xe đạp và ông cháu lên đường, tối đến thuê nhà trọ ngủ rồi hôm sau lại đi.

Có lẽ hiếm người dân làng nào biết đến nhiều lễ hội như người làng tò he Xuân La bởi từ trước tới nay cuộc sống của tò he vẫn gắn với những lễ hội suốt từ bắc vào nam. Mùa xuân - mùa lễ hội và cũng là mùa bận rộn của những người thợ tò he Xuân La. Ngày hội Lim, hội Gióng tò he sặc sỡ nối nhau thành những dãy dài vui mắt.

Đã ở tuổi 80 nhưng đều đặn mỗi tháng hai lần, rằm và mồng 1 cụ lại lên Hàng Mã ngồi nặn tò he. Lần thì cụ đi nhờ xe máy của mấy người làng, lần thì cụ đi xe ôm lên huyện rồi bắt xe khách, rồi lúc về lại đi xe ôm. Con cháu bảo cụ già rồi, đi làm gì cho khổ, trừ cả tiền xe cộ có khi chẳng đủ vốn. Nhưng hơn 60 năm qua cụ đã gắn bó với tò he, đã quen với cái máu lang thang rồi, bỏ làm sao được, giờ sức khỏe kém nên cụ đi ít chứ mấy năm trước cụ vẫn đạp xe đi khắp nơi: "Không đi thì nóng ruột, thì nhớ lắm!"

2. Hơn mười năm về trước, khi chúng tôi còn là những đứa trẻ trường làng, ngày nào ở cổng trường cũng có hàng tò he, sáng nào ở chợ cũng có mẹt tò he xanh đỏ bày bán. Nhưng bây giờ đi khắp các chợ cũng không thấy đâu bóng dáng của một chú tò he. Từ lâu vợ ông Thuận cũng không gánh tò he đến những chợ lân cận để bán nữa. Mỗi năm chỉ một đôi lÇn nhác thấy tò he bên cạnh những đồ chơi Trung Quốc ở cổng trường làng. Tò he sinh ra từ làng quê, là đồ chơi quá ư dân dã, mộc mạc của con trẻ nhưng tò he lại đã và đang bỏ bọn trẻ, bỏ luỹ tre làng để đến với nơi phồn hoa, đô hội.

Xuân La có tới vài chục nhà kéo cả vợ chồng, con cái vào Sài Gòn để bán tò he. Con trai cả của ông Thuận cùng vợ con vào đó đã 5, 6 năm nay, chúng tôi đến đúng vào dịp anh về thăm quê. Trong Sài Gòn mỗi con tò he của anh giá lên tới 15.000đ. Tôi lấy thứ dụng cụ học tập mà học sinh không thể không có là chiếc bút bi để làm thước so sánh giá thành của tò he. Cách đây hơn chục năm, mỗi cái bút bi 1000đ tương đương với 2 đến 3 con tò he nhưng bây giờ 5 đến 15 cái bút bi 1000đ mới tương đương được 1 con tò he. Vậy là tò he dần trở thành thứ đồ chơi xa xỉ, dần trở thành thứ đồ chơi mơ ước của bọn trẻ ở rất nhiều làng quê.


Tò he luôn mang lại niềm vui cho cụ Hạ, cho người Xuân La


Cụ Hạ kể: nhiều lần cụ đi bán ở những hội làng của Hà Nam, Thái Bình... hay ngay cả đất Phú Xuyên nhà cụ, bọn trẻ con tíu tít vây quanh muốn mua, cụ không nói cụ bán 5000đ/ con mà cụ hỏi xem từng đứa có bao nhiêu tiền, đứa nhiều nhất cũng chỉ được mẹ cho 3000đ đi chơi hội. Nhìn những đôi mắt thích thú của lũ trẻ, cụ không nỡ lấy tiền, cụ chia cho mỗi đứa một cái.

Cháu ngoại cụ - anh Đặng Văn Kha thì chưa bao giờ đi bán ở quê, trừ bốn ngày hội lớn: giỗ tổ Hùng Vương, hội Gióng, hội Lim và hội Cổ Loa. Anh bán ở Hà Nội, đến các tỉnh thì anh chỉ bán ở thành phố, thị xã hoặc những nơi có tổ chức hội chợ: "Dân ở thành phố nhiều tiền chứ ở quê ai người ta dám bỏ ra cả chục bạc để mua một con tò he cho con chơi."

Xa xỉ hơn, tò he đã bỏ chợ quê, bá trường làng để vào nhà hàng, khách sạn. Anh Kha thường cùng vợ biểu diễn nặn tò he ở ®ã; người ta gọi điện mời thì đi, trung bình mỗi tháng một lần anh mặc áo dài, đội khăn xếp ngồi biểu diễn cho du khách. Thù lao mỗi giờ biểu diễn ở khách sạn của anh từ 200.000đ đến 300.000đ, nhà hàng Bến Trăng bên Gia Lâm thì trả anh mỗi giờ 10 USD (không kể tiền du khách thưởng thêm).

Một người cháu nữa của cụ Hạ là anh Đặng Văn Tiên, năm nay anh 25 tuổi, biết nặn tò he từ thở lên 10, học hết cấp 2 anh bắt đầu theo ông và anh Kha đi nặn bán tò he. Giờ anh Tiên đã một mình một ngựa sắt rong ruổi khắp nơi. Nhiều gia đình ở Hà Nội còn thuê anh làm gia sư... tò he cho con cái họ vài ba buổi. Khi chúng biết nặn hoặc khi chúng chán (dù chưa biết nặn) những cục bột nếp xanh đỏ, chán con tò he ngộ nghĩnh để về với đống đồ chơi điện tử thì anh đi. 2 tiếng/ buổi, mỗi buổi anh được trả từ 50.000đ đến 80.000đ.

Tò he - vẫn 12 con giáp là chủ yếu, vẫn những vật liệu nông thôn đÊy nhưng dường như cái hồn làng quê mộc mạc của tò he đang ngày càng nhạt phai!

3. So với mười năm về trước, số người làm tò he đã giảm xuống khá nhiều, 30% những người thợ tò he đã chuyển sang buôn bán hoặc làm nghề phụ khác.

Năm 1999, anh Kha và nhiều thợ tò he của Xuân La đã lên Hà Nội làm tò he xuất khẩu sang Đài Loan. Đầu vào, đầu ra do phía Đài Loan lo tất, mình chỉ việc ngồi nặn thôi. Anh nhớ nhất lần làm 21.000 quả ớt, 21.000 quả nho và 21.000 cái bánh mỳ; người ta đòi hỏi khích thước phải như nhau, mình thì quen với việc đại khái nên phải mất một ngày trời mới làm được. Mấy chục thợ ngày đó rất thích bột nặn mà họ đưa sang, cũng dẻo và dễ nặn nhưng để khô thì bột đó cứng như nhựa, không bị nứt, giòn như bột của mình. Nhưng rồi thuế bột vào cao quá, thuế xuất về Đài Loan cũng cao nên doanh nghiệp ấy không duy trì lâu dài được. Năm 1999 tiền công những người thợ tò he nhận được đã là 50.000đ/ ngày (không kể cơm trưa). Anh Kha cười: "Kể cũng tiếc, công cao mà lại không phải đi long rong". Sau lần ấy anh đến ĐH Bách Khoa, ĐH KHTN tìm đặt thứ bột như của Đài Loan nhưng không nơi nµo làm được.


Tò he để lâu dù đã khô nứt nhưng không hề mất đi nét sinh động bên sắc vàng của rơm, của thóc và của nắng


Bây giờ anh vẫn mỗi tháng một lần biểu diễn cho khách nước ngoài xem: "Làm cho họ thích lắm, họ vẽ ý tưởng rồi mình nặn (vì không hiểu tiếng); họ cũng mê mẩn những con tò he được nặn theo ý mình, họ thưởng 4, 5 USD là chuyện bình thường." Rồi anh chùng giọng phàn nàn: “Thích thật đấy nhưng tháng cũng chỉ được có một lần, mà cái nghề này nó bệ rạc, chỉ đi và chạy. Đi mãi cũng chán, cũng mệt, tìm được chỗ ngồi ở Hà Nội để tối về với vợ con thì bị công an đuổi vì tò he bị đánh đồng với hàng rong. Tôi đang tính bỏ tò he đi buôn, làm tò he chỉ được 1,5 triệu/ tháng, mà bây giờ ai cũng muốn làm giàu chứ không đơn giản là đủ ăn nữa."

Con trai ông Thuận thì lạc quan hơn với tò he: "Nghề làm giàu đấy cô ạ! Trong Sài Gòn mỗi tháng tôi kiếm được ngót 2 triệu."

Cụ Hạ lại bảo: giàu là giàu thế nào, cô đi quanh làng tôi thì cô thấy rồi đấy, có độ chục cái nhà cao tầng thì toàn của những người buôn bán. Làm tò he gọi là cho nó có đång ra đồng vào, khá hơn làm ruộng thôi chứ giàu làm sao được.

Cụ mang cho chúng tôi xem bức tranh khảm giấy cụ vừa làm xong. Tranh khảm giấy là dự án của trường Nguyễn Viết Xuân; người thợ tò he khéo tay, giàu trí tưởng tượng rất hợp với sự tỉ mỉ, kiên trì của tranh khảm. Bức khảm chú chim đậu trên cành mai trắng, cì giấy A4 mà cụ Hạ phải mất cả một ngày trời mới xong. Mấy người nữa trong xóm cũng đang làm, "sản phẩm mà đạt thì người ta sẽ phổ biến cho cả làng, sẽ lấy khoảng 3000 người làm tranh khảm giấy, rồi sẽ cho đàn bà, trẻ con làm tất".

Nhìn nét mặt vui thích khi nặn tò he của cụ Hạ, tôi tin cụ sẽ không bao giờ bỏ tò he nhưng tôi cũng giật mình bởi số lượng 3000 người làm tranh khảm giấy (trong khi Xuân La có khoảng 200 hộ đang theo nghề tò he). Cứ cho rằng những người đang làm tò he vẫn tiếp tục làm tò he đi nữa thì thế hệ sau này (cháu chắt của cụ Hạ chẳng hạn), sẽ còn được bao nhiêu người nữa cộng thêm vào cuộc đời rong ruổi của tò he? 

Huy Viên

 Gửi tin qua Email  |  Bản in

Gửi phản hồi
Người gửi:
Nơi công tác:
E-Mail:  
Tiêu đề:
Nội dung:
Tệp đính kèm:
Mã an toàn:
Nhập mã an toàn
 

Các tin khác
Kỳ V: Quảng Châu- thành phố của những chứng tích (14/01)
Kỳ IV: Chuyện về đứa con hoang giàu nhất châu Á (12/01)
Kỳ III: Khỏa thân ở Macau (08/01)
Kỳ II: Đằng sau bức tường Thâm Quyến (06/01)
Kỳ I: Chuyện nền kinh tế dịch vụ Hồng Kông (05/01)
Chuyện của một góa phụ sau 10 năm làm dâu vẫn còn con gái (02/01)
Buôn Đôn và lời mời gọi bí ẩn... (26/01)
Người đàn bà khóc trong rừng săng lẻ (26/12)
Có một người đàn ông như thế trong cuộc đời! (06/01)
Người đàn bà ba mươi năm không vấn tóc và dăm câu chuyện khác (23/12)
Khi tỉ phú trẻ kén vợ yêu thật
Sóng gió lắng yên, Yến Vi lên xe hoa
Tăng Thanh Hà - Gió số phận ngất ngây thổi mạnh
Cuộc sống ngược của một kỳ nữ hám tiền
Bí mật rung động “huyệt đạo trai tân” giải oan tội hiếp dâm
Người đàn bà trong Mùa hoa cải bên sông
Những chuyện nhỏ và buồn về hoa hậu Ngọc Khánh
Giải thưởng tìm chồng của góa phụ tỷ phú trẻ
Chuyện của một góa phụ sau 10 năm làm dâu vẫn còn con gái
Góa phụ tỉ phú chọn chồng: Tôi đã tìm được hai cách lựa chọn
Kỳ III: Khỏa thân ở Macau
Kỳ IV: Chuyện về đứa con hoang giàu nhất châu Á

© VieTimes – Chuyên mục của Báo điện tử VietNamNet - Tổng biên tập: Nguyễn Anh Tuấn
® Ghi rõ nguồn “vietimes.vietnamnet.vn” khi trích dẫn lại từ website này.
Tòa soạn: 141 Bà Triệu, Hai Bà Trưng, Hà Nội - Điện thoại: 04 37722729 * Fax: (04)37722734 * E-mail: vto@vietnamnet.vn