>> Chuyện về "Cây trầm già Hữu Ngọc"
>> Định mệnh với nghề báo
>> Chuyên gia "xuất nhập khẩu" văn hóa
>> Say sưa với "cuộc đời thứ hai"
Phóng viên (PV): Ông là một trong những người làm báo ngoại văn đầu tiên và lâu năm nhất ở Việt Nam. Ông đã từng làm Tổng biên tập ba tờ tạp chí đối ngoại, đã giữ chuyên mục hàng tuần trong 15 năm cho Vietnam News, 13 năm cho Le Courrier du Vietnam, đã được giải Mot d’or của báo chí Pháp ngữ, có bài ở báo Mỹ, Pháp, Đức, Nhật,… Vậy theo ông, làm báo ngoại văn khác gì với làm báo tiếng Việt? Tâm lý và cái tư duy của người nước ngoài khác với người mình, phải viết như thế nào để người ta hiểu được?
Nhà văn hóa Hữu Ngọc (HN): Đầu những năm 60, khi bắt đầu thành lập một số tờ báo đối ngoại, có một cán bộ cao cấp ở Ban Tuyên huấn chỉ thị cho chúng tôi: Làm báo cho người nước ngoài hay trong nước thì cũng như nhau, chẳng có gì khác cả. Cần gì phải viết, cứ lấy báo Nhân Dân ra mà dịch lại, đấy mới là lập trường vững chắc, chính thức của ta. Nhiều cán bộ phụ trách báo chí cấp trên còn dặn dò chúng tôi: Các anh xuống địa phương, cứ bám lấy bí thư tỉnh, huyện là biết hết. Lúc đó, quan niệm về báo chí, kể cả báo ngoại văn là đơn giản như thế.
|

|
|
Ông Hữu Ngọc giới thiệu về bộ sách 15 năm Quỹ Phát triển văn hóa Việt Nam - Thụy Điển - Ảnh: NA |
Tuy nhiên chúng tôi - những người trực tiếp làm tờ Le Vietnam en marche và NXB Ngoại văn tự cảm thấy là không thể như thế được, nhưng không nói ra. Chúng tôi vẫn lặng lẽ làm theo suy nghĩ của chúng tôi. Bởi thường xuyên đọc báo nước ngoài, lại từng tiếp xúc với tù hàng binh trong Kháng chiến chống Pháp, chúng tôi hiểu tâm lý và tư duy của họ không giống mình. Nếu làm theo sự “bày bảo” từ trên sẽ thất bại. Làm cho người ta đọc mà người ta không thích đọc thì còn có hiệu quả gì.
Năm 1963, anh Nguyễn Khắc Viện từ Pháp về. Anh Viện đã ở Pháp 24 năm, lại là một ngòi bút sắc sảo được các nước phương Tây công nhận, nên quan niệm và cách làm của chúng tôi được anh Viện rất ủng hộ. Anh lại truyền cho chúng tôi kinh nghiệm viết đối ngoại của anh.
PV: Vậy thì hai cách viết khác nhau như thế nào?
HN: Tôi nghĩ rằng, với đối tượng nước ngoài phổ biến theo tôi vừa phân tích, mình phải quan niệm họ vừa giỏi vừa dốt hơn ta. Họ giỏi hơn ta ở chỗ là trí thức trung bình của họ hơn ta, hiểu biết của họ, trình độ nhận thức của họ cao hơn, vì họ sống trong một xã hội khoa học, nên tư duy lôgic và học vấn… thì cứ nói ngay là đến công nông của họ cũng hơn ta. Đấy là cái họ giỏi hơn bạn đọc trong nước mình.
Thực ra, nói đối tượng nước ngoài chung chung là không đúng, vì tâm lý các nước phát triển khác các nước chậm tiến, các nền văn minh và văn hóa dân tộc khác nhau. Viết cho độc giả Mỹ khác viết cho độc giả Thái Lan, Ả Rập, Hoa… Tốt nhất, phải có bút viết riêng cho từng khu vực, bằng ngôn ngữ khác nhau. Nhưng làm như vậy, ta làm gì có người và có tiền?
Vì vậy, khi nói độc giả nước ngoài, nên quy định một mẫu số chung độc giả có tâm lý và trình độ phổ biến nhất, với ngữ phổ biến nhất. Bạn đọc phổ biến nhất là độc giả phương Tây, và ngữ phổ biến nhất là tiếng Anh (rồi đến tiếng Pháp, Đức, Tây Ban Nha). Các độc giả nước ngoài, kể cả các nước châu Á, Phi, Mỹ La tinh, nằm trong khuynh hướng trí thức, ứng xử hiện đại theo phương Tây (công nghiệp hóa, đô thị hóa, khoa học hóa) - ấy là loại ra ngoài tâm lý từng dân tộc.
Nhưng họ “dốt” hơn ta vì họ không biết gì về ta cả, từ phong tục, tập quán, nền văn hoá, tình hình chính trị, nói chung là đất nước, con người Việt Nam.
Nên khi viết mình phải dựa trên hai đặc điểm vừa giỏi vừa dốt ấy mà viết.
Giỏi, ngoài trình độ dân trí, họ còn quen với phương pháp tư duy logic. Họ suy nghí theo cách quy nạp, đi từ cái cụ thể rồi kết luận sau. Đối với người nước ngoài, anh phải đưa tư liệu, chứng cớ trước, rồi kết luận sau, mà viết giỏi thì để tự người ta kết luận, chứ anh đừng kết luận hộ. Họ không thích dài dòng mà đi thẳng vào vấn đề.
Mặt khác, độc giả nước ngoài dốt hơn mình ở chỗ họ không biết gì về mình. Nên khi mình viết cho người nước ngoài mình phải có giải thích, một cách khéo léo, vì nếu nói trực diện câu văn sẽ ngố. Ví dụ viết cho người Việt, anh nói “Con cháu bà Trưng, bà Triệu bắn rơi máy bay Mỹ” thì ai cũng hiểu nhưng Tây thì không, nếu không giải thích. Tả bộ đội cụ Hồ đi dép cao su thì phải thêm vào vài từ để họ hiểu đó là đôi dép cắt từ nhưng chiếc lốp ô tô bắt được của địch. Nói thì như vậy nhưng làm mới thấy khó. Hoàn toàn là tự mày mò và rút kinh nghiệm qua công việc. Vì ở mình không có trường nào dạy như thế.
Viết phóng sự về nhà máy, nếu viết cho trong nước thì khen luôn, khẳng định thành tích luôn mà không cần giải thích. Còn viết cho nước ngoài, thì phải nói rõ về cái nhà máy này thông qua những chi tiết để phác thảo ra lịch sử, hiện trạng, vấn đề đang tồn tại, giải quyết ra sao… phân tách một cách khoa học.
Cái thứ hai nữa, độc giả nước ngoài rất đa nghi, vì một tính chất của họ đựoc hình thành lừ lâu đời là “nghi ngờ khoa học”. Nên những bài viết đừng làm cho họ nghi ngờ là mình tuyên truyền, họ không muốn bị tuyên truyền.
Cái thứ ba, cũng là vì đầu óc khoa học, nên ngay cả tả cảnh, cũng phải theo một logic sự việc mà họ chấp nhận được. Mọi chi tiết phải logic, nhất quán. Có trường hợp chúng ta dịch một truyện ngắn, lúc đầu là tay phải, sau lại thành tay trái, họ lập tức phát hiện ngay.
Cái thứ tư, tránh tô hồng, không né tránh những vấn đề hóc búa. Kiểu viết cho người trong nước thì các vấn đề hóc búa ta cứ lờ nó đi. Nhưng anh viết báo giỏi cứ đi thẳng vào vấn đề và giải thích tại sao. Chứ cứ lờ đi là không được.
Một điểm nữa là khi viết về nhân vật, ta cứ đưa những nhân vật điển hình mẫu mực nhất. Tờ Le Vietnam en marche có mục giới thiệu những người dân thường, có lần đưa ra một nhà sư nữ. Khi biên tập, một chuyên gia người Úc đọc, ông góp ý thế này không ổn, đưa ra thế này người ta không tin đâu. Bà là một “quan chức” chứ đâu phải một nhà tu hành bình thường. Vì bà lại là Chủ tịch UB MTTQ xã, lại là ủy viên của HĐND huyện, Hội trưởng Hội phụ nữ thôn… Như vậy, bà đâu còn thời gian để làm công việc của một nhà tu hành, chăm lo cho các Phật tử. Họ bảo đây không phải điển hình, và cũng không phải tiêu biểu. Anh phải chọn một nhà sư bình thường khác..
Về tư duy và tình cảm. Người Việt Nam rất dễ đi vào tình cảm. Cho nên trong cách viết, nhiều khi quá ướt át, có khi làm người nước ngoài khó chịu. Ngay cả cái cười của ta nhiều khi cũng vô lý, không đúng chỗ. Cho nên những cái viết ra ta cho là hóm hỉnh, ta cười có khi lại thành vô duyên, không hợp với hoàn cảnh.
Một điểm khác nhau nữa là người nước ngoài họ rất kị mình lên lớp về đạo đức, có tính giáo huấn. Mà kiểu viết của ta bao giờ cũng lên lớp cả, họ khó chịu lắm.
Cách thể hiện của người nước ngoài nó mạch lạc, nó không rậm rạp. Thành thử, cách viết của ta có khi đến 20 dòng mà không xuống dòng, cứ đặc sệt, cái đó cũng không hợp với người nước ngoài.
Một đặc điểm nữa là người phương Tây đánh giá cao cái hài hước, tính chất humour trong văn phong và diễn đạt ngôn từ. Điều này cũng quan trọng, nó làm cho một bài báo trở nên thông minh hơn, sắc sảo hơn.
 |
|
Ông Hữu Ngọc trong một buổi chiều cuối năm 2008 tại nhà riêng của mình - Ảnh: NA
|
PV: Đội ngũ của mình sau này có đáp ứng được yêu cầu làm báo cho người nước ngoài hay không?
HN: Đội ngũ thời ông Nguyễn Khắc Viện là những trí thức học ở trường Pháp hoặc ở Châu Âu về nên ngoại ngữ khá, nhưng để viết được cho đối tượng nước ngoài thì vẫn chỉ đếm trên đầu ngón tay. Vì muốn viết đối ngoại cho tốt, thì phải viết thẳng chứ không nghĩ bằng tiếng Việt rồi tự dịch. Phải biết phân thân, mình vừa phải là người viết, vừa phải là người đọc (nước ngoài), như thế mới trúng được. Cho nên cùng một bài, cùng một đề tài, tôi viết cho báo Sức khỏe và đời sống khác, viết cho báo ngoại văn của ta (Le courrier du Vietnam, Vietnam news) khác.
PV: Bác có đọc bài nào của thiếu tướng tình báo Phạm Xuân Ẩn viết không? Bởi ông được làm phóng viên cho phương Tây, thì chắc cách viết của ông nhuần nhuyễn như người nước ngoài. Theo bác, người viết báo đối ngoại xuất sắc nhất của ta là ai?
HN: Tôi không được đọc ông Ẩn, nhưng ông là phóng viên của tờ Time, một tờ báo hàng đầu của Mỹ thì tất nhiên giỏi rồi. Tôi chỉ biết ông Nguyễn Khắc Viện là người được phương Tây đánh giá cao. Trong kháng chiến chống Mỹ, ông là trí thức có tính đại diện Việt Nam ở các nước phương Tây, là hậu phương của các nước Pháp – Mỹ xâm lăng ta. Khi kết thúc hội nghị Paris, đài Truyền hình Paris tổ chức cuộc tranh luận, đấu khẩu giữa ông với mấy trí thức lớn của Pháp và họ rất phục. Ông Viện theo tôi là một nhà báo viết cho người nước ngoài rất giỏi.
PV: Hiện nay ta có nhiều báo nước ngoài, bác đánh giá cao tờ nào?
HN: Tờ Vietnam News cũng đứng được, vì nó có nhiều chuyên gia và có kinh nghiệm. Nó được chấp nhận nhưng xuất sắc thì chưa, vì vẫn bị hạn chế nhiều thứ trong tư duy. Còn những tờ khác về kinh tế,… tôi cũng không xem được hết. Tờ le Courrier du Vietnam được các sứ quán đánh giá tốt, nhưng tôi thấy còn lép vế quá.
PV: Báo ngoại văn ra nước ngoài phản ánh tình hình thực tế của xã hội còn hạn chế, vậy thì độc giả nước ngoài có nhu cầu được thông tin ở Việt Nam họ phải làm thế nào?
HN: Bây giờ mạng Internet giải quyết tất cả những vấn đề thông tin. Không kể các báo điện tử chuyên nghiệp, những tờ báo lớn của ta đều có bản tiếng Anh trên mạng. Các hãng thông tấn trên thế giới đều có Văn phòng hoặc phóng viên thường trú ở các thành phố lớn. Người ở nước ngoài cũng đâu có thiếu thông tin, thậm chí họ ngồi ở Paris còn có thể biết được nhiều thông tin hơn ta ở đây. Có điều là báo chí ta thiếu đa dạng ý kiến nên kém hấp dẫn, người làm báo mang tính công chức, ít suy nghĩ độc lập.
PV: Trong thế giới phẳng, độ vênh giữa độc giả nước ngoài và trong nước hôm nay đã được kéo gần lại?
HN: Nói chung bây giờ thì có khá hơn, nhưng chưa được như ta mong đợi. Nhất là bây giờ, cán bộ ngoại ngữ, trình độ ngoại ngữ cũng còn hạn chế. Những người trẻ giỏi ngoại ngữ thì đã chạy đi làm kinh tế rồi, không mấy ai muốn làm báo. Cái chính là hai kiểu tư duy khác nhau, cách diễn đạt khác nhau, nên không phù hợp.
PV: Khi viết báo ngoại văn, bác nhằm vào đối tượng nào là chính?
HN: Ta bảo là phải phục vụ công nông. Nhưng công nông nước ngoài khác công nông của ta. Vấn đề phát hành báo ra nước ngoài còn hạn chế. Ta phát hành bằng con đường bán và phân phối qua các sứ quán. Hiện nay, bán không dễ, vì Việt Nam không còn là trung tâm thế giới. Giá cước lại cao.
Lúc đầu, tôi đã phân tích đối tượng và mẫu số chung độc giả nước ngoài đối với ta là ai. Giờ đi vào cụ thể.
Ta không đủ khả năng đưa nhiều báo ra nước ngoài nên khó có thể đến tay được tầng lớp công nông ở những nước đó. Qua các sứ quán, ta đi đường vòng để phát huy tuyên truyền vận động. Chọn đối tượng cung cấp là những nhà báo, nhà hoạt động xã hội, nhà chính trị lớn từng nước, họ đọc để hiểu thực chất của vấn đề, và sẽ viết lại cho mình. Chúng tôi gọi đó là “tái sản xuất mở rộng”. Ví dụ quyển sách của tôi đến tay một nhà văn lớn, ông ta đọc, thích và giới thiệu, thì hiệu quả sẽ lớn hơn rất nhiều và nhân rộng lên.
PV: Trên thực tế hiệu quả có như chúng ta mong đợi?
HN: Theo tôi, ngoại giao cần có một cái nền văn hoá thì hoạt động mới có kết quả. Đó là thương hiệu quốc gia, uy tín đối ngoại của dân tộc. Thông tin của ta ra ngoài sẽ tác động đến dư luận các nước đối tác và như vậy tác động gián tiếp đến các chính phủ trong quan hệ ngoại giao với ta. Do đó truyên truyền đối ngoại, trong đó có sách báo là một vũ khí sắc bén, ít tốn kém, vượt qua các rào cản ngay cả khi có chiển tưanh để đến tay nhân dân các nước liên quan.
Xin lấy vài thí dụ về tác động của sách báo đối ngoại. Vừa rồi Mỹ có ra cuốn sách “100 nhà quân sự” xưa nay, Việt Nam có Đại tướng Võ Nguyên Giáp xếp thứ 40, trên Lâm Bưu và Mao Trạch Đông, vì họ cho rằng cách đánh của ông được các phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc bắt chước để áp dụng. Sở dĩ có nhận định này một phần là do trong chiến tranh chống Mỹ, ông Nguyễn Khắc Viện có đúc kết chiến lược chiến thuật của Tướng Giáp trong cuốn “Chiến tranh nhân dân, quân đội nhân dân” được dịch sang nhiều thứ tiếng và được Đại sứ quán của ta phát hành khắp thế giới.
Một thí dụ nữa, cũng trong thời chống Mỹ, ta phát hành đi khắp thế giới bộ Tuyển tập Văn học Việt Nam (tiếng Pháp, Anh do Nguyễn Khắc Viện và Hữu Ngọc chủ biên) làm rất công phu, dày tới 2.000 trang, được các báo phương Tây khen ngợi. Dư luận phương Tây đánh giá cao không chỉ nội dung mà cả việc làm này. Người ta ca ngợi là: Dưới bom đạn Mỹ, người Việt Nam vẫn bình tĩnh giới thiệu những áng văn cổ điển của mình bởi họ tin rằng với chiều dày văn hoá của mình, họ tin là họ sẽ thắng Mỹ.
Tờ tạp chí đối ngoại hồi đó Études Vietnamiennes, bản tiếng Anh là Vietnamese Studies (Tổng biên tập Nguyễn Khắc Viện, sau là Hữu Ngọc) được các nhà báo phương Tây coi là tài liệu tham khảo đáng tin cậy, họ dùng để viết lại cho ta để nhân dân nước họ đọc, do đó ảnh hưởng rộng lớn.
Sách báo đối ngoại tác dụng như vậy nhưng vẫn chưa được chú ý. Tạp chí Études vietnamienes và Vietnam Cultural Window (hiện được các sứ quán ta đánh giá cao) giới thiệu bộ mặt quốc gia, nhưng rất thiếu phương tiện phát triển và chỉ là cơ quan cấp 3. Theo tôi, cần nâng tầm của chúng lên cao hơn mới hợp lý.
Nhuệ Anh (Vietimes) thực hiện