Trong hoàn cảnh này, tôi cho rằng những trường hợp có thai “ngoài mong muốn” không phải lúc nào cũng hoàn toàn là không mong muốn. Trong tình huống khi thanh niên chưa cảm thấy sẵn sàng cho việc sinh con và xây dựng gia đình, việc có thai vẫn có thể mang nhiều ngụ ý xã hội tích cực.
 |
| Vũ điệu thiên thần của những hình nộm |
Một trường hợp có thai khẳng định hai người “được sinh ra cho nhau”, sự kết hợp của họ không chỉ là gặp gỡ ngẫu nhiên của hai người xa lạ mà là vì họ có duyên với nhau do “ý của trời”. Liên quan đến điều này và xét trên khía cạnh thực tế, việc có thai còn là cách để kiểm tra mối quan hệ. Nó khẳng định khả năng sinh sản của hai người, và vì thế tăng cơ hội hôn nhân trong tương lai, đồng thời thử thách khả năng cùng chịu đựng khó khăn của cả hai người. Nhiều nhận từ góc độ đàn ông, “kiểm tra” khả năng sinh sản của người con gái trước khi đi đến hôn nhân là việc đặc biệt quan trọng.
Như ý kiến của Hiếu (25 tuổi) cố gắng giải thích việc Yến đã có thai như thế nào:
“Thứ nhất, em không phải là người đi dụ dỗ, khi việc như thế này xảy ra, em vẫn yêu cô ấy, tình cảm của em không thay đổi. Thứ hai, em muốn biết và kiểm tra cô ấy. Em đã quyết định sẽ cưới cô ấy. Vì vậy, em muốn biết chúng em có thể có con với nhau hay không? Em muốn biết liệu cô ấy có thể có con và em có trở thành một người cha được không. Em muốn biết về vấn đề này ở cả hai chúng em”.
Nhìn từ góc độ phụ nữ, “kiểm tra” không chỉ liên quan tới khả năng sinh sản mà còn cả độ tin cậy và những lời cam kết của người con trai:
“Khi bạn thật sự yêu ai, bạn phải biết anh ta có thực sự yêu bạn không. Lúc đầu, bạn không thể biết nhưng có rất nhiều cách để tìm hiểu điều đó (thử thách). Ví dụ như vấn đề chúng em vừa trải qua [có thai/nạo phá thai]. Nếu anh ấy không thực sự yêu thương em, thì anh ấy có lẽ đã bỏ em. Bởi vì anh ấy không muốn liên luỵ, vì anh ấy không muốn chịu trách nhiệm, và vì điều này sẽ tạo căng thẳng và tốn thời gian. Có rất nhiều trường hợp như thế và em nghĩ việc phải đi đến bệnh viên một mình là điều đau khổ nhất. Nếu bạn có thai và bạn trai của bạn rời bỏ bạn, thì bạn chỉ còn nghĩ đến cái chết”, (Hồng, 20 tuổi)
“Khi em phải làm điều này [phá thai], bạn trai em đã khóc. Anh ấy cảm thấy anh ấy đã mất đứa con. Anh ấy thương cho đứa bé và anh ấy thương em, anh ấy sợ là em bị đau, vì thế anh ấy đã khóc và chúng em an ủi lẫn nhau. Nhưng nếu anh ấy là loại bạn trai khác, nếu anh ấy không yêu thương em thật sự thì sau việc này anh ấy sẽ dửng dưng hoặc sẽ coi em như con ngốc’’, (Yến, 20 tuổi)
Trong một số trường hợp có thai trước hôn nhân là một chiến lược được hai người sử dung có chủ tâm để có được sự đồng tình cho cưới của cha mẹ, hay một trong hai người dùng để thuyết phục người kia về các lợi ích của hôn nhân (Efroymson, Vu Pham Thanh Nguyen and Nguyen Quynh Trang, 1997). Như Vinh, 25 tuổi đã giải thích: “Lúc đó em muốn cưới cô ấy, và cô ấy lưỡng lự nửa muốn nửa không, vì thế em nghĩ, được rồi, chúng em sẽ thử và xem tình hình thế nào. Em nghĩ nếu chúng em có con, cô ấy sẽ cưới em nhưng cuối cùng cô ấy cũng không đồng ý cưới”. Nhiều người cũng cảm nhận một cách sâu sắc rằng việc có thai gắn kết hai người yêu nhau mãi mãi. Cho dù có sinh con hay không, việc có thai biến những người yêu nhau thành các bậc cha mẹ và như vậy xác lập một mối ràng buộc xã hội lâu dài (Gammetoft, sắp xuất bản)”. Theo lời Yến, sau khi bạn có quan hệ tình dục và sau khi bạn phá thai, bạn trở thành một người phụ nữ và một người mẹ. Nó giống như bạn trở thành người mẹ còn bạn trai của bạn trở thành người cha vậy”.
Tóm lại: việc có thai trước hôn nhân đóng vai trò là một nhân tố khẳng định độ sâu sắc và tính lâu bền của mối quan hệ tình dục hay ngược lại, nó chỉ là một sản phẩm ngẫu nhiên của hai người tình cờ gặp nhau. Theo nghĩa này, các trường hợp có thai trước hôn nhân có thể được coi là các phản ứng đối với sự bấp bênh và tự do của cuộc sống thành thị, qua đó thanh niên tìm cách vựơt qua những bất trắc và rào cản họ gặp phải khi trải qua các mối quan hệ tình dục trong một thế giới xã hội thành thị. Sự có thai làm hai người trở nên rất quan trọng và đặc biệt đối với nhau, tạo ra một điểm ổn định và chắc chắn trong một xã hội liên tục vận động, thay đổi và không thể hiện tiên liệu trước.
Điều trớ trêu là, sự chắc chắn đó cũng chỉ tạm thời, qua kinh nghiệm từ các ca nạo thai, sự chắc chắn này sớm trở thành không chắc chắn, khi nạo phá đặt ra những nghi ngờ về mặt đạo đức mà thanh niên chưa biết trước (gammetoft,sắp xuất bản/b) và khi các can thiệp y tế có nguy cơ ảnh hưởng tới khả năng sinh sản của phụ nữ trẻ trong tương lai. Như San (nam, 30 tuổi) nhận xét: “Chúng em muốn biết chúng em có thể có con cùng nhau không, nhưng nếu thử thì cũng mạo hiểm. Bây giờ chúng em có thể có con, nhưng sau này khi chúng em đã kết hôn thì có thể chúng em sẽ không thể có con. Em sợ điều gì đó không hay xảy ra, lần này thì chúng em có thể, nhưng sau đó chúng em không thể”.
Tine Gammeltoft (Phan Thị Uyên, Nguyễn Minh Đức dịch từ bản tiếng Anh)